Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Pha sữa cho trẻ bằng nước gì?


Ðể cho con mình có “chiều cao và sự thông minh vượt trội”, nhiều bà mẹ làm theo kinh nghiệm truyền miệng đã pha sữa cho trẻ bằng nước rau, củ hoặc nước khoáng... Nhưng sự thật lại không hoàn toàn như vậy.

Pha sữa cho trẻ bằng nước gì?

Sức khỏe trẻ em

Pha sữa bằng nước khoáng

Khi dùng nước khoáng để pha sữa cho trẻ em uống sẽ có nguy cơ tạo ra một số chất trung gian nguy hiểm. Thực sự, nước khoáng chỉ tốt cho một số người có nhu cầu cần bổ sung chất khoáng, còn “nước tinh khiết” chỉ tốt cho người đã có đầy đủ mọi chất khoáng.

Nếu uống sữa pha với nước khoáng, trẻ không hấp thu được hết những chất dinh dưỡng có trong sữa. Ví dụ trẻ có nhu cầu cần nhiều chất khoáng, vitamin để phát triển, nhưng nếu uống một loại nước khoáng nào đó lâu ngày thì chỉ được cung cấp một số chất, thiếu những chất khác, điều này sẽ cản trở sự phát triển của trẻ.

Pha sữa bằng nước rau luộc

Nước luộc các loại rau như củ dền, cà rốt, nước cải bẹ xanh, bắp cải, củ cải đường… thường có chứa hàm lượng nitrate cao, sau khi ăn sẽ đi vào máu kết hợp với hemoglobin của hồng cầu tạo ra methemoglobin khiến hồng cầu mất khả năng vận chuyển ôxy và có thể gây tử vong nếu khôn  điều trị kịp thời. Hơn nữa, các loại rau thường được sử dụng các loại   thuốc bảo vệ thực vật nên khi nấu thường hòa tan trong nước luộc rau. Dùng nước luộc rau đó pha sữa sẽ có nguy cơ gây ngộ độc cho trẻ.

Pha sữa bằng nước hoa quả

Trái cây là nguồn cung cấp vitamin và khoáng chất cho cơ thể, đặc biệt là vitamin C giúp hấp thu tốt chất sắt có trong sữa và thực phẩm, tăng cường quá trình tạo máu của cơ thể nhất là trẻ nhỏ.

Tuy nhiên, nước trái cây hoàn toàn không thích hợp dùng để pha sữa vì trong nước trái cây có chứa nhiều vitamin C và một số axit hữu cơ. Các chất này sẽ làm vón casein (một loại protein chính trong sữa) sẽ làm cho trẻ khó tiêu và đầy bụng.

Ngoài ra, không nên cho trẻ uống sữa ngay sau hoặc trước khi ăn hoa quả. Một điều cần lưu ý nữa là không nên cho trẻ dưới 6 tháng tuổi uống các loại nước trái cây.

Pha sữa an toàn

Chỉ cần được đun sôi nước sạch đến 100 độ C trong vòng 3 - 5 phút thì những vi khuẩn trong nước sẽ bị tiêu diệt, đáp ứng nhu cầu nước sạch và an toàn cho cả người lớn và trẻ nhỏ. Ngoài ra, khi pha sữa bột nên dùng nước đun sôi và để ra ngoài một thời gian đến khi nước ấm là tốt nhất, thường là từ 40 - 50 độ C

Theo Sức khỏe & đời sống

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em, nếu có những thắc mắc về sức khỏe các bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp của các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/pha-sua-cho-tre-bang-nuoc-gi--n62-2845

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Những điều cần biết khi tiêm ngừa bệnh thủy đậu

Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng tràn ngập thông tin về bệnh thủy đậu – còn gọi là trái rạ hay phỏng rạ. Do bệnh thủy đậu đã vào giai đoạn cao điểm, số bệnh nhi mắc bệnh thủy đậu tăng cao, thêm vào đó là tác động tích cực của truyền thông giáo dục sức khỏe nên số phụ huynh đưa con trẻ đi tiêm ngừa bệnh thủy đậu đã tăng đột biến trong những ngày này.

Theo ước tính, mỗi ngày phòng tiêm chủng Bệnh viện Nhi Đồng 1 tiếp nhận khoảng trên dưới 100 lượt trẻ đến tiêm ngừa, gần 50% trong số đó yêu cầu chủng ngừa bệnh thủy đậu, tăng gấp ba so với ngày thường. Điều này cho thấy nhu cầu tiêm ngừa của các bậc cha mẹ cho con em mình là rất cao, bài viết dưới đây sẽ cung cấp thêm một số thông tin để quý vị được rõ hơn.

Những điều cần biết khi tiêm ngừa bệnh thủy đậu

Sức khỏe trẻ em

Tác hại của bệnh thủy đậu

Hầu hết trẻ bệnh thủy đậu sẽ khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ có thể bị viêm da, viêm phổi hay viêm não và có thể tử vong. Trẻ sinh ra từ người mẹ bị mắc bệnh thủy đậu có thể bị dị tật, sẹo da và một số bất thường khác.

Nếu đã từng bị mắc bệnh thủy đậu, trẻ sẽ có được miễn dịch và sau này không bị mắc bệnh một lần nữa. Tuy nhiên, trong vài trường hợp khi lớn lên bệnh có thể diễn tiến thành bệnh zona, đặc trưng bởi triệu chứng phát ban khu trú ở một số vị trí và đau dọc theo đường đi của dây thần kinh cảm giác.

Một số thông tin về vắc xin ngừa bệnh thủy đậu

Vắc xin ngừa bệnh thủy đậu được sản xuất từ vi rút sống được làm giảm độc lực, khi đưa vào cơ thể sẽ có tác dụng giúp cơ thể tạo ra kháng thể để chống lại bệnh. Vắc xin này được sử dụng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên. Tùy theo loại vắc xin mà trẻ chỉ cần tiêm một liều duy nhất hoặc nhắc lại liều thứ 2 đối với trẻ trên 12 tuổi. Khi tiêm đủ liều trẻ sẽ đạt được miễn dịch kéo dài đối với bệnh thủy đậu và cả bệnh zona sau này. Những trẻ đã từng mắc bệnh thủy đậu sẽ không cần tiêm ngừa vì bản thân đã có miễn dịch rồi.

Những ai cần tiêm ngừa bệnh thủy đậu?

- Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên chưa mắc bệnh thủy đậu

- Người lớn chưa từng mắc bệnh thủy đậu, đặc biệt là các đối tượng như cô giáo, người chăm sóc trẻ, nhân viên y tế

- Phụ nữ chưa có miễn dịch với bệnh cần được tiêm ngừa trước khi mang thai khoảng 2 tháng

Những ai không được tiêm ngừa bệnh thủy đậu?

- Dị ứng với vắc xin hoặc bất cứ thành phần nào của vắc xin. Vì vậy khi đưa bé đi tiêm ngừa, cha mẹ cần nói cho bác sĩ biết tất cả tiền sử về dị ứng của con mình

- Phụ nữ có thai hoặc nghi ngờ có thai

- Dự định có thai trong vòng 1 tháng sau tiêm ngừa

- Trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh, bất thường về máu, ung thư, nhiễm HIV, đang hoá trị liệu, bệnh lao.

- Đang mắc bệnh nặng

Một số phản ứng phụ sau tiêm ngừa

Tất cả các vắc xin đều có thể gây ra phản ứng phụ sau khi tiêm. Tuy nhiên, những phản ứng này đều nhẹ và ít khi xảy ra. Một số phản ứng có thể gặp sau tiêm ngừa thủy đậu bao gồm:

- Sưng, đỏ, đau ngay vị trí tiêm

- Sốt nhẹ

- Phát ban nhẹ xảy ra trong khoảng 5 – 26 ngày sau tiêm ngừa

- Dị ứng với vắc xin ngừa bệnh thủy đậu: rất hiếm xảy ra, những phản ứng này thường xuất hiện trong vòng 15 phút sau tiêm. Do đó sau khi được chủng ngừa, phụ huynh cần cho trẻ ngồi lại khoảng 30 phút để theo dõi.

Trẻ có tiếp xúc với người bệnh thủy đậu có thể tiêm ngừa được hay không?

Bạn vẫn có thể đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tiêm ngừa. Tuy vậy, nếu thời gian tiếp xúc của trẻ trên 5 ngày thì nhiều khả năng vắc xin sẽ không bảo vệ trẻ được khỏi bệnh. Bên cạnh đó, vắc xin ngừa bệnh thủy đậu cần thời gian khoảng 2 tuần lễ để đạt được miễn dịch tốt nhất nên trong khoảng thời gian này nếu trẻ có tiếp xúc với nguồn lây, trẻ vẫn có khả năng bị mắc bệnh. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, nếu trẻ phát bệnh sau tiêm ngừa thì các triệu chứng bệnh cũng sẽ được giảm nhẹ rất nhiều và hầu như không xảy ra biến chứng.

Bs Như Huỳnh

Chú ý:Trên đây là những thông tin mà các bạn có thể tham khảo, để biết thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Khoáng chất đối với sự phát triển trẻ nhỏ

Khoáng chất là các chất vô cơ, chuyển hóa thành thực phẩm qua quá trình tích hợp vào đất và thực vật, động vật. Chúng ta hấp thu các loại khoáng chất bằng cách ăn các loại đó. Có hơn 20 loại khoáng chất cần cho cơ thể trẻ em.

Phân loại:

Về phương diện dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ theo nhu cầu của cơ thể:

- Vĩ khoáng (macromineral) hay khoáng chất đa lượng đó là: Calci, phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri, chlor và kali.

- Vi khoáng (microminerals) hay khoáng chất vi lượng như là: Sắt, đồng, bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic, molybden, boron...

Vai trò của khoáng chất


- Cần cho sự tăng trưởng và sự vững chắc của xương;

- Điều hòa hệ thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;

- Để làm chất xúc tác chế biến diếu tố ( enzyme);

- Là thành phần của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;

- Có tác dụng phối hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của cơ thể;

- Giữ thăng bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể.

Trong thực tế, cơ thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự tác động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các chất dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp. Cho nên một lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra sự mất cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh dưỡng.

Hậu quả thiếu khoáng chất:


- Gia tăng khả năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng của trẻ

- Trầm cảm, lo âu

- tăng trưởng hoặc xương yếu

- Đau nhức bắp thịt, khớp xương

- Rối loạn tiêu hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.

Các loại khoáng chất:

Sắt

· Sắt giúp cơ thể bé có được hệ miễn dịch khỏe mạnh. Ngoài ra, sắt còn có chức năng hình thành hồng cầu và khiến hồng cầu có màu đỏ. Sắt đảm nhiệm vai trò trong việc phát triển thể chất, trí não và tinh thần cho trẻ nhỏ.

· Vì sao bé cần:Sắt quan trọng cho sự phát triển của não bộ – nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt khoáng chất này có thể dẫn đến khiếm khuyết trong tư duy và vận động của trẻ.

· Các bé sơ sinh khi ra đời đều có một nguồn dự trữ sắt dồi dào, thường đủ cho nhu cầu của bé trong 4-6 tháng đầu đời. Tuy nhiên, các bé sinh non có thể thiết hụt một phần hoặc toàn bộ dự trữ sắt quan trọng được tích lũy trong tam cá nguyệt thứ ba của thai kỳ. Điều này, cùng với việc nhịp tăng trưởng có thể làm cạn kiệt nguồn sắt dự trữ của bé sinh non chỉ trong 2-3 tháng.

· Liều lượng hàng ngày: Sữa công thức đã chứa lượng sắt cần thiết cho nhu cầu của bé trong năm đầu đời, nhưng sữa mẹ thì không được bổ sung khoáng chất này, đó là lý do vì sao phụ huynh cần cho bé làm quen với thực phẩm giàu sắt sớm trong nửa sau của năm đầu đời, khi bé bắt đầu ăn dặm . Từ 7-12 tháng tuổi, bé cần 11mg nguyên tố sắt mỗi ngày, và từ 1-3 tuổi, liều lượng giảm còn 7mg/ngày.

· Cung cấp cho bé:Sau 6 tháng tuổi, bạn có thể chọn bột ngũ cốc tăng cường dinh dưỡng để làm thức ăn dặm đầu tiên cho bé, với 2 khẩu phần mỗi ngày (mỗi khẩu phần khoảng 15g) để cung cấp 11mg sắt.

· Nguồn sắt trong loại thực phẩm: Thịt và cá là các nguồn cung cấp sắt tự nhiên, bạn có thể cho bé ăn thêm thịt bò, gà và cá. Một số nguồn cung cấp sắt khác gồm có: quả bơ, khoai tây, bông cải xanh, trứng, đậu nành và rau bó xôi, trứng, cá, thịt bò, gan, các loại rau xanh đậm là nguồn cung cấp sắt dồi dào cho trẻ.

Số lượng sắt trong thực phẩm:

Khoáng chất đối với sự phát triển trẻ nhỏ

Sức khỏe trẻ em

Acid folic:

· Axit folic giữ vai trò hình thành tế bào hồng cầu và giúp đảm bảo một hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ.

· Do đó, cho con ăn thực phẩm cho chứa acid folic có thể giúp bé thông minh, tránh những nguy cơ dị tật ống thần kinh và bệnh tự kỉ.

· Mẹ có thể tìm nguồn axit folic cho con trong loại thực phẩm: Các loại rau xanh đậm, súp lơ, các loại đỗ, ngũ cốc, cam, bơ, cà chua đều chứa hàm lượng acid folic cao.

Chất béo:

· Chất thuộc nhóm chất dinh dưỡng chính và đóng vai trò thiết yếu với cơ thể, là nguồn năng lượng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là với sự phát triển của não bộ và thị giác.

· bổ sung các loại dầu thực vật, mỡ động vật sạch trong khẩu phần ăn của trẻ để đảm bảo lượng chất béo cần thiết.

Choline:

· Choline là một trong các chất dinh dưỡng thiết yếu giúp não bộ của trẻ phát triển bình thường. Ngoài ra, choline còn giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất béo trong cơ thể, bảo đảm chức năng vận động cơ và khả năng ghi nhớ của trẻ.

· Muốn trẻ học tốt nhớ lâu đừng quên bổ sung Choline

· Cung cấp cho trẻ choline thông qua các thực phẩm như sữa, trứng, gan, lạc.

Canxi:

· Canxi giúp bé đạt được tỉ trọng xương tối ưu, cần thiết để tạo xương chắc khỏe và ngăn ngừa gãy xương khi bé leo trèo hoặc chơi thể thao.

· Liều lượng hàng ngày: Sữa mẹ và sữa công thức cung cấp đủ can-xi cho bé trong năm đầu đời. Khi bạn chuyển sang cho bé dùng sữa bò nguyên chất, bé cần cung cấp đủ 500mg can-xi mỗi ngày.

· Giúp bé quen với mùi vị các chế phẩm sữa ít béo sẽ có ích cho bé khi bước vào tuổi dậy thì cần lượng can-xi vượt trội (1300mg/ngày khi bé 9 tuổi), vì can-xi được hấp thụ tốt nhất từ thực phẩm. Các bé thừa cân và có nguy cơ béo phì, hoặc gia đình có tiền sử mắc tim mạch sớm có thể dùng sữa giảm béo từ 12-24 tháng tuổi.

Số lượng Canxi có trong thực phẩm

Khoáng chất đối với sự phát triển trẻ nhỏ

Kẽm:

· Ngoài tác dụng tích cực đối với khả năng nhận thức và phát triển, vai trò chính của kẽm là duy trì chức năng miễn dịch và đảm bảo sự tăng trưởng tối ưu và sửa chữa các tế bào. Thiếu hụt kẽm liên quan đến suy giảm tăng trưởng, tăng khả năng nhiễm trùng và nguy cơ tiêu chảy.

· Sữa công thức cung cấp đủ nhu cầu kẽm của bé, nhưng sữa mẹ thì không, vì vậy điều quan trọng là cần cho bé ăn các thực phẩm giảu kẽm trong nửa sau của năm đầu đời. Trẻ từ 7 tháng tuổi đến 3 tuổi cần 3mg kẽm mỗi ngày.

· Mỗi 50g thịt thăn heo chứa khoảng 2mg kẽm, mỗi 250g sữa chua chứa 1.6mg kẽm, và nửa cái ức gà chứa 1mg kẽm. Các nguồn thực phẩm chứa kẽm khác gồm: thịt bò, cá, trứng, sữa tươi nguyên chất, phô-mai cheddar, gia cầm và cá, vì vậy nếu bạn cho bé ăn đủ chất sắt, khả năng là bé cũng được cung cấp đủ kẽm.

Khoáng chất đối với sự phát triển trẻ nhỏ

Theo Phạm Thị Yến - Khoa Dinh Dưỡng Tiết Chế - Bệnh viện Nhi Trung Ương

Chú ý: Trên đây là những thông tin mà các bạn có thể tham khảo, để biết thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ

Viêm thanh khí quản cấp ở trẻ


Viêm thanh khí phế quản cấp, từ y khoa thường gọi là Croup, là một bệnh lý viêm nhiễm cấp tính vùng hạ thanh môn do siêu vi trùng, dẫn đến hậu quả là trẻ bị khàn tiếng, thở rít, ho khan. Những trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp thường khởi đầu bằng những triệu chứng của cảm như ho, sổ mũi, sốt nhẹ, sau đó 1 – 3 ngày bắt đầu có triệu chứng khàn giọng, khó thở, thở rít, nhất là vào lúc thời tiết trở lạnh như giữa đêm.

Viêm thanh khí quản cấp ở trẻ

Suc khoe tre em

Lứa tuổi thường mắc phải bệnh này là dưới 5 tuổi, do đường thở hẹp nên khi viêm nhiễm gây phù nề làm cho đường dẫn khí càng trở nên chít hẹp hơn, gây nên triệu chứng khó thở.

Nhận diện viêm thanh khí phế quản cấp:

Có thể nhận biết trẻ có bị viêm thanh khí phế quản cấp hay không bằng cách dựa vào các triệu chứng điển hình của bệnh như:

-          Tiếng thở rít thì hít vào: bạn quan sát trẻ thở sẽ thấy mỗi lần hít vào trẻ phát ra âm thanh như tiếng rít, nghe thô ráp.

-          Ho khan

-          Khàn tiếng

-          Khó thở, mức độ khó thở nhiều hay ít sẽ tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

Nhận diện các dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi bệnh viện ngay:

Cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất ngay khi có một trong các dấu hiệu sau đây:

-          Thở nhanh, có thể xác định bằng cách đếm nhịp thở của trẻ thấy ≥ 50 nhịp/ phút

-          Khó ngủ, bứt rứt và đổ mồ hôi

-          Màu môi trở nên tái nhợt

-          Phần mô cơ ở 2 bên cổ hay ở giữa các xương sườn lõm xuống mỗi khi trẻ cố gắng hít thở

Một điều cần lưu ý là các triệu chứng của viêm thanh khí phế quản cấp có thể trùng lắp với một số bệnh cảnh khác như dị vật đường thở, viêm nắp thanh môn, vì vậy cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện khi thấy có các biểu hiện: sốt cao, thở mệt, khò khè nhất là khi thở ra, khó nuốt hoặc đột ngột ho sặc sụa

Chăm sóc trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp tại nhà:

Không phải tất cả trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp đều phải nhập viện điều trị. Nếu trẻ không có các dấu hiệu nguy hiểm đã nêu và tiếng thở rít chỉ xuất hiện khi khóc thì trẻ vẫn có thể điều trị ngoại trú tại nhà và tái khám theo lịch hẹn. Khi đó, cần lưu ý chăm sóc trẻ tại nhà theo hướng dẫn sau:

-          Thường xuyên cho trẻ uống nước

-          Nếu trẻ sốt cao hoặc đau họng, có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt và giảm ho

Tăng độ ẩm trong không khí có thể sẽ làm trẻ cảm thấy dễ chịu hơn. Bạn có thể đặt trẻ trong bồn tắm nước ấm hoặc dùng vòi hoa sen, và dĩ nhiên là bạn phải luôn luôn để mắt đến trẻ.

BS Như Huỳnh

Theo bệnh viện nhi đồng 1

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em. Hãy gọi điện cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp của các bác sĩ.

http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/can-than-voi-viem-thanh-khi-quan-cap-n62-2788

Dinh dưỡng cho trẻ dưới 1 tuổi


Trong 1 năm đầu đời, trẻ phát triển nhanh, do đó chúng cần được bổ sung một lượng lớn năng lượng và dinh dưỡng vào thời điểm thích hợp.

Sự tăng trưởng của trẻ không phải dần dần mà đôi khi có sự bùng phát, và nghĩa là khẩu vị và cơn đói của trẻ là không thể đoán trước được.  Lượng thức ăn và sự ngon miệng của trẻ khác nhau từng ngày. Điều này là hết sức bình thường và sẽ không gây ra bất cứ vấn đề nào cho trẻ nếu con bạn phát triển tốt.

Cai sữa

Khi bắt đầu tập cho trẻ ăn dặm các đồ ăn đơn giản khác nhau, đây có thể xem là thời gian “cai” sữa. Đây là thời điểm trẻ được chuyển từ việc chỉ ăn sữa sang việc ăn các thức ăn dặm. Khoảng từ 12 tháng tuổi trở lên, trẻ sẽ sẵn sàng để ăn các thức ăn thông thường trong gia đình.

Tập ăn dặm từ khoảng 6 tháng tuổi

Sữa mẹ và sữa bột là thức ăn quan trọng nhất cho trẻ dưới 12 tháng tuổi, nhưng thức ăn dặm phải được đưa vào đúng thời điểm. Vào khoảng 6 tháng tuổi, trữ lượng sắt của trẻ thấp, do đó trẻ cần được cung cấp các loại thức ăn khác ngoài sữa để tránh các vấn đề suy dinh dưỡng về sau này như thiếu sắt. Hãy bắt đầu tập cho trẻ ăn dặm từ khoảng 6 tháng tuổi, tùy thuộc vào các nhu cầu phát triển của trẻ.

Ăn dặm quá sớm có thể gây nên vấn đề

Trẻ khi đói phải được cho bú sữa mẹ hoặc các loại sữa công thức khác cho đến khi chúng sẵn sàng ăn dặm. Một số bậc phụ huynh muốn thử cho con ăn dặm dưới 4 tháng tuổi vì nghĩ rằng điều này có thể giúp trẻ tăng trưởng nhanh hơn, ngủ ngon hơn hoặc cứng cáp hơn.

Cho ăn dặm quá sớm ít khi đạt được điều này và lại dẫn đến các vấn đề khác cho trẻ, bao gồm:

Tăng nguy cơ dị ứng thức ăn
Tăng trưởng chậm, nếu các thức ăn này thay thế hoàn toàn sữa mẹ hoặc sữa công thức.
Phân không tốt hoặc tiêu chảy, nếu như trẻ không tiêu hóa được các thức ăn này.
Không ăn dặm quá muộn

Ăn dặm cũng không được để quá muộn vì điều này có thể gây ra một số vấn đề dinh dưỡng ở trẻ bao gồm:

Tăng trưởng chậm do thiếu hụt năng lượng
Thiếu máu và thiếu sắt
Thiếu hụt kỹ năng ăn uống, đặc biệt nếu không bắt đầu được ăn dặm trước khoảng 7 đến 9 tháng tuổi.
Các dấu hiệu cho thấy trẻ sẵn sàng ăn dặm.

Dấu hiệu trẻ sẵn sàng thử các thức ăn mới bao gồm:

Quan sát và nhoài người ra trước khi thấy thức ăn
Cho tay vào miệng
Há miệng khi được cho thức ăn
Di chuyển lưỡi lên và xuống một cách tích cực
Đưa tay ra với thức ăn hoặc thìa.

Dinh dưỡng cho trẻ dưới 1 tuổi

Sức khỏe trẻ em

Các kỹ năng ăn khi trẻ lớn hơn

Từ 9 đến 12 tháng trẻ sẽ phát triển các kỹ năng ăn uống khác bao gồm:

Thể hiện sự vui thích tự xúc ăn
Có khả năng nhai thức ăn có cục
Tự dùng được cốc ăn
Tự ăn với một vài sự giúp đỡ.
Sự sẵn sàng về thể chất cho việc ăn dặm.

Các cơ quan và cơ thể của con bạn tăng trưởng và phát triển chủ yếu và nhanh trong khoảng từ 4 đến 6 tháng tuổi. Điều này chỉ ra rằng cơ thể chúng đã sẵn sàng cho việc ăn dặm. Quá trình lớn lên này bao gồm:

Hệ tiêu hóa: Các enzym tiêu hóa giúp tiêu hóa thức ăn phát triển
Hệ miễn dịch: Hệ miễn dịch ở ruột chống lại các chất hóa học đã phát triển đầy đủ.
Miệng và lưỡi: Trẻ có thể dùng lưỡi đưa thức ăn về sau miệng và nuốt một cách an toàn.
Đầu và cổ: Trẻ có thể tự nâng đầu; việc này sẽ giúp trẻ ngồi thẳng và nuốt được.
Thận: Thận của trẻ giờ có thể kiểm soát được số lượng chất lỏng tăng lên do các thức ăn dặm tạo nên.
Dấu hiệu khi trẻ no

Các dấu hiệu khi trẻ no hoặc không thích ăn có thể bao gồm: việc ngậm chặt miệng và quay đầu đi chỗ khác khi được cho ăn. Chúng có thể khóc khi thức ăn đưa tới hoặc có thể đẩy thìa ra. Nếu việc này xảy ra khi lần đầu tiên bạn cho con ăn thì hãy bình tĩnh và thử lại vào vài ngày tới. Mặc dù hầu hết trẻ đều nhè thức ăn ra một cách tự nhiên khi lần đầu tiên được ăn dặm nhưng sau đó nhanh chóng trẻ lại tập nuốt khi bạn tiếp tục cho con ăn.

Học cách nhận biết khi con bạn đói hoặc no rất quan trọng để có được bữa ăn vui vẻ, thoải mái và hạnh phúc.

Một số lời khuyên cho việc tập ăn dặm cho con

Thức ăn không được để trong chai, bình mà phải được dùng bằng thìa nhỏ. Các gợi ý cho việc tập ăn dặm cho con bao gồm:

Bình tĩnh và thoải mái khi bạn bắt đầu cho trẻ ăn
Đảm bảo chắc chắn trẻ ngồi ngay ngắn thoải mái và không quá đói
Ở cùng con khi con ăn. Cho con ngồi chung với gia đình trong bữa ăn để con học và quan sát.
Kiên nhẫn. Ban đầu con bạn có thể bắt đầu chỉ với 1 thìa đầy, nhưng có thể tăng dần thời gian và thực hành lên.
Hãy chuẩn bị tinh thần là bữa ăn sẽ rất bừa bộn
Ở cùng trẻ khi trẻ ăn để tránh tai nạn khi ăn như nghẹn, hóc.
Nếu trẻ từ chối ăn trong lần đầu, hãy thử lại vào ngày hôm sau
Chờ vài ngày sau trước khi giới thiệu đồ ăn mới cho trẻ.

Gợi ý thức ăn đầu tiên

Các loại thức ăn đầu tiên có thể chuẩn bị dễ dàng và rẻ ngay tại nhà mà không có muối, các loại gia vị và chất làm ngọt. Ban đầu thức ăn nên được nghiền và dễ nuốt, nhưng sau đó vài tháng có thể chuyển sang thức ăn nghiền ít nhuyễn hơn.  Các gợi ý chung bao gồm:

Bắt đầu với một loại thức ăn đơn giản chứ không là hỗn hợp thức ăn
Bắt đầu với bột gạo vì bột gạo cung cấp chất sắt và là thức ăn tốt nhất để bắt đầu
Tiếp theo cho trẻ ăn thêm rau và quả
Tập cho trẻ ăn các loại thịt và gà bắt đầu từ 7 đến 8 tháng tuổi. Tất cả trẻ  từ 8 đến 9 tháng tuổi phải được bổ sung thịt hoặc xen lẫn với các loại khác rau đậu khác như đậu xanh hoặc đậu Hà Lan
Sữa chính cho trẻ dưới 12 tháng phải là sữa mẹ hoặc sữa công thức. Tuy nhiên với trẻ từ 7 – 8 tháng tuổi có thể bạn có thể cho ăn các loại thức ăn có sữa bò trong đó như bánh trứng, sữa chua.
Nếu gia đình có tiền sử với bệnh dị ứng thì không được cho trẻ ăn các loại lạc, hạt, các loại có vỏ như tôm, cua, sò… trong 2 năm đầu. Thảo luận với bác sĩ gia đình hoặc các chuyên gia sức khỏe y tế về các thức ăn kiêng cho trẻ.
Tránh các thức ăn cứng nhỏ như các loại hạt và các loại rau quả cứng, chưa nấu vì trẻ có thể bị hóc hoặc nghẹn.
Các loại nước ép hoa quả chưa thích hợp với trẻ.
Làm thô dần thức ăn cho trẻ

Trong khi đồ ăn dặm đầu tiên của trẻ thường phải được nghiền và thật nhuyễn, nhưng càng lớn trẻ sẽ nhanh cần các loại thức ăn về độ nhuyễn cũng như các loại thức ăn khác nhau. Một số các gợi ý:

Cho trẻ từ khoảng 7 tháng tuổi các thức ăn cầm được bằng tay như vài miếng rau nấu kỹ, vài mẩu vỏ bánh để khuyến khích trẻ nhai và tự  ăn.
Cho trẻ chiếc thìa nhỏ để khuyến khích trẻ tự xúc ăn, thậm chí ngay khi bạn đang cho trẻ ăn.
Khuyến khích và dạy trẻ uống nước bằng cốc từ 7 – 8 tháng tuổi
Chuyển từ thức ăn nghiền nhuyễn sang thành ít nhuyễn hơn và sau đó là thức ăn băm nhỏ.
Khi hết 12 tháng tuổi, con bạn phải được sẵn sàng ăn các loại thức ăn thông thường trong gia đình.

Tập cho trẻ bắt đầu với sữa bò.

Các gợi ý bao gồm:

Sữa bò không giàu chất sắt và sẽ không bao giờ có thể thay thế cho sữa mẹ hoặc sữa công thức cho trẻ dưới 12 tháng tuổi. Tiếp tục sử dụng sữa mẹ hoặc sữa công thức cho đến khi trẻ được ít nhất 1 tuổi.
Sữa bò chứa các mức protein, muối khoáng và kali cao hơn ở sữa mẹ và sữa công thức. Điều này sẽ  tăng gánh nặng cho thận.
Có thể bổ sung lượng nhỏ sữa bò vào món trứng sữa hoặc sữa chua hoặc ngũ cốc.
Sữa  phải được coi là thức uống chính cho đến khi trẻ được 1 tuổi hoặc trẻ ăn được các loại thức ăn khác nhau mỗi ngày, bao gồm thịt hoặc các loại thịt xen lẫn.
Dị ứng và ăn chay.

Có vài điểm cần xem xét khi con bạn được cho ăn các thức ăn khác nhau, đặc biệt khi con bạn có các dấu hiệu của dị  ứng hoặc khi gia đình ăn chay.

Dị ứng: Nếu gia đình có tiền sử dị ứng rõ ràng hãy cẩn thận và chú ý khi cho trẻ ăn dặm đầu tiên. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe  trẻ em.
Ăn chay: Con bạn phải cần các chất dinh dưỡng bổ sung nếu chỉ được nuôi bằng các loại rau. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe  trẻ em.
Các loại thức ăn không thích hợp

Một vài loại thức ăn không thích hợp cho các trẻ em dưới 12 tháng tuổi. Những thứ này bao gồm:

Mật ong: có nguy cơ nhiễm khuẩn tiềm ẩn từ mật ong.
Trà: Trà có chứa chất ta-nanh sẽ làm giảm khả năng hấp thụ vitamin
Các loại hạt: phải tránh không dùng vì trẻ sẽ có nguy cơ bị hóc. Nếu tiền sử gia đình không có bệnh dị ứng, thì có thể sử dụng bột hạt đã nhào để cho trẻ trên 12 tháng.
Nước trái cây: không chứa các chất béo và có thể làm giảm lượng sữa đã hấp thụ.
Sữa giảm béo: Không thích hợp cho trẻ dưới 2 tuổi.
Một số điểm cần nhớ:

Bắt đầu cho trẻ ăn dặm khoảng từ 6 tháng tuổi.
Đồ ăn dặm phải được nghiền nhừ và thật mềm, sau đó chuyển dần lên thô và cứng.
Trẻ ban đầu có thể chỉ ăn 1 thìa đầy, nhưng sau đó sẽ tăng được thêm do luyện tập.
TH
Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hứơng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/dinh-duong-cho-tre-duoi-1-tuoi-n62-2810

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Đái dầm và những ảnh hưởng đến sinh hoạt ở trẻ nhỏ


Đái dầm là một rối loạn bài tiết nước tiểu không theo ý muốn xảy ra khi ngủ, gặp khá phổ biến ở trẻ em: Ở lứa tuổi 5 tuổi gặp từ 10-20%, đến 10 tuổi tỉ lệ đái dầm là 3-4%, trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái. Những trẻ có rối loạn tăng hoạt động bị đái dầm tăng gấp 2,7 lần. Đến tuổi trưởng thành vẫn còn khoảng 1% người bị đái dầm.

Nguyên nhân gây đái dầm

-         Yếu tố di truyền: Gia đình bố mẹ không có tiền sử đái dầm lúc nhỏ sẽ có trẻ bị đái dầm với tỷ lệ 15%, nếu chỉ có bố hoặc mẹ bị - tỷ lệ bị là 44%, nếu cả bố và mẹ bị đái dầm – tỷ lệ con bị là 77%.

-         Rối loạn giấc ngủ: Khó thức tỉnh từ giấc ngủ sâu khi bang quang căng đầy nước tiểu.

-         Chậm phát triển hệ thần kinh trung ương làm giảm khả năng kiểm soát nín tiểu của bàng quang khi trẻ ngủ.

-         Yếu tố nội tiết: Không đủ hormone bài niệu ADH (hormone này có tác dụng làm giảm số lượng bài tiết nước tiểu từ thận).

-         Nhiễm trùng tiết niệu.

-         Dị dạng đường tiết niệu: Bất thường van niệu quản ở trẻ trai hoặc bất thường niệu đạo ở trẻ gái. Bàng quang nhỏ hơn bình thường làm giảm khả năng lưu giữu nước tiểu lâu trong bàng quang.

-         Bất thường cột sống

-         Yếu tố tâm lý: Một số trẻ đái dầm do có lo âu, sang chấn tâm lý ở nhà hoặc ở trường.

-         Do gia đình ít luyện tập cho trẻ đi tiểu trước khi ngủ.

-         Nhiều trường hợp không tìm ra nguyên nhân chính.

Nguyên nhân thực tổn (dị dạng, nhiễm trùng) chỉ chiếm 5% các trường hợp đái dầm, còn lại 95% do rối loạn chức năng.

Lứa tuổi trẻ đạt được khả năng bàng quang

Nước tiểu được bào tiết ra từ thận được lưu giữ trong bàng quang. Đối với trẻ nhỏ, việc tiểu tiện diễn ra tự động do sự co cơ thành bàng quang và giãn cơ cổ bàng quang theo chu kỳ thường là 2-3 giờ trẻ đi tiểu 1 lần. Đến khi 2-3 tuổi trẻ có thể kiềm chế nín tiểu lâu hơn vào ban ngày. Cùng với sự phát triển theo lứa tuổi, trẻ dần dần học được là nếu đi tiểu đúng lúc sẽ được mọi người mong đợi và khen ngợi. Sau khi đã kiểm soát việc tiểu tiện ban ngày, dần dần trẻ có thể kiểm soát cả lúc ngủ. Tới thời điểm này bộ não của trẻ sẽ chỉ huy cần phải làm gì do có mối liên hệ giữa não và bàng quang về thông điệp nín tiểu.

Đái dầm có liên quan đến sự chậm trưởng thành chức năng của bàng quang. Trẻ có khả năng kiểm soát bàng quang ở những độ tuổi khác nhau, nhưng phần lớn trẻ không bị đái dầm sau 5 tuổi. Việc điều trị trẻ em đái dầm trước 5 tuổi là không cần thiết.


Đái dầm và những ảnh hưởng đến sinh hoạt ở trẻ nhỏ

Sức khỏe trẻ em

Đánh giá trẻ đái dầm

Trước hết, bác sỹ sẽ hỏi gia đình về thói quen đi vệ sinh vào ban ngày và ban đêm của trẻ. Mặc dù phần lớn trẻ đái dầm đều khoẻ mạnh nhưng trẻ vẫn cần được khám toàn diện, làm xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, một số trẻ có thể cần siêu âm hoặc chụp X- quang hệ thận tiết niệu.

Bác sỹ có thể hỏi trẻ và gia đình về những việc xảy ra ở nhà và ở trường. Bác sỹ hỏi về cuộc sống gia đình vì việc điều trị phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi tại nhà. Nhiều trẻ em thấy có lỗi và bối rối rụt rè, kém tự tin, kém hoà nhập khi bị mắc chứng đái dầm. Do trẻ đái dầm nên nhiều gia đình phải thức dậy vào ban đêm để dọn vệ sinh hay gọi trẻ dậy đi tiểu nên có thể làm gia đình thiếu ngủ. Nếu thiếu ngủ kéo dài làm cho trẻ họp tập kém tập trung, chú ý, gia đình thiếu ổn định hay không vui vẻ.  Vì vậy trẻ có thể cần được làm thêm một số trắc nghiệm tâm lý để đánh giá hành vi cảm xúc.

Điều trị

Hầu hết trẻ em tự khỏi đái dầm. Tuy nhiên cha mẹ và bác sỹ có thể quyết định trẻ cần phải điều trị. Có hai phương pháp điều trị: điều trị tâm lý và thuốc. Điều trị tâm lý bao gồm trị liệu hành vi nhằm huấn luyện trẻ không đái dầm và tư vấn tâm lý.

Một số biện pháp trị liệu hành vi có thể áp dụng là

-        Trẻ hạn chế uống nước vào buổi tối

-        Đi tiểu trước khi đi ngủ.

-       Đánh thức trẻ dậy đi tiểu vào ban đêm với khoảng thời gian lùi dần về sang. Chú ý là khi trẻ tỉnh ngủ hẳn mới cho trẻ đi tiểu.

-       Cho trẻ tự theo dõi đái dầm bằng vẽ tranh, vẽ đám mây mưa khi bị đái dầm, vẽ mặt trời khi không bị đái dầm. Gia đình khen thưởng, động viên kịp thời, phù hợp khi thấy trẻ tiến bộ sau mỗi ngày, mỗi tuần…

-       Yêu cầu trẻ tự dọn vệ sinh, thay ga giường, chiếu khi bị đái dầm.

-       Tập luyện bàng quang: Hướng dẫn trẻ nín giữ nước tiểu lâu hơn trong bàng quang, tập đái ngắt quãng.

Tư vấn tâm lý: Giải quyết những sang chấn tâm lý nếu có. Giải thích cho gia đình và trẻ không quá lo về chứng bệnh này vì việc đái dầm không phải do trẻ cố ý mà chỉ đơn giản là trẻ không thể kiểm soát được cơ bàng quang khi ngủ. Gia đình luôn động viên trẻ, chấp nhận trẻ, không đánh mắng trừng phạt. Tạo cho trẻ cảm thấy được tôn trọng, được yêu thương sẽ làm cho trẻ cảm thấy tự tin, giảm lo lắng cũng chính là tác nhân tốt để điều trị đái dầm có hiệu quả.


Đái dầm và những ảnh hưởng đến sinh hoạt ở trẻ nhỏ

Đái dầm và những ảnh hưởng đến sinh hoạt ở trẻ nhỏ

Thuốc điều trị đái dầm

Nếu trẻ trên 7 tuổi và điều trị hành vi không có kết quả có thể cho trẻ uống amitriptilin (là thuốc chống trầm cảm ba vòng) liều thấp. Tuy nhiên một số trẻ uống thuốc này có thể bị tác dụng phụ như buồn ngủ, khô miệng, chóng mặt… và chống chỉ định nếu có rối loạn dẫn truyền tim.

Một số gia đình cũng có thể tìm đén những phương pháp điều trị khác nhau để chữa trị đái dầm như thuốc nam, châm cứu.. nhưng chưa thấy rõ hiệu quả điều trị. Việc điều trị đái dầm cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa bác sỹ, gia đình và trẻ.

Ths. Quách Thuý Minh

Chú ý: Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Nguồn: 
http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/dai-dam-va-nhung-anh-huong-den-sinh-hoat-o-tre-nho-n62-2789

Cách chăm sóc trẻ sơ sinh những ngày đầu




Khi trẻ chào đời, tiếng khóc đầu tiên sẽ đánh dấu khả năng sống độc lập của trẻ. Trong tuần lễ đầu cơ thể trẻ, có những thay đổi nhằm thích nghi cuộc sống. Đồng thời, sức đề kháng của trẻ còn non yếu nên trẻ sẽ gặp phải một số chứng bệnh.

Cần hiểu rõ từng chứng bệnh của trẻ, các bà mẹ và các ông bố có cách xử trí kịp thời. Những trường hợp nào cần xử trí tại nhà và những trường hợp nào ta phải đưa trẻ đi gặp bác sĩ nhi khoa.

Cách chăm sóc trẻ sơ sinh những ngày đầu

Sức khỏe trẻ em

Trong tuần lễ đầu trẻ sơ sinh có những thay đổi sinh lý như thế nào?

Hệ hô hấp từ lúc chào đời trẻ tự thở qua phổi, nên kiểu thở bụng khác so với người lớn, thỉnh thoảng có cơn ngưng thở thoáng qua cho trung tâm điều hòa hô hấp chưa hoàn chỉnh. Hệ tuần hoàn, biểu hiện nhịp tim tăng trung bình 130 lần/phút. Hồng cầu trong máu trẻ tăng sau đó giảm dần, do hồng cầu phá hủy, đời sống hồng cầu cũng rút ngắn lại để phù hợp trạng thái sống độc lập so với giai đoạn ở trong bào thai của người mẹ. Thân nhiệt trẻ dễ bị hạ thân nhiệt, cần thiết phải luôn ủ ấm cho trẻ. Hệ tiêu hóa trẻ có thể bắt đầu tiêu hóa ngay sau sinh, cần thiết phải cho trẻ bú liền sau 2 tiếng sinh. Đào thải phân su và đào thải nước tiểu, có thể ngay sau sinh và cũng nói lên được hệ tiêu hóa và hệ tiết niệu của trẻ bình thường.

Các chứng bệnh chưa cần phải đi khám bệnh

Vàng da sinh lý: những ngày sau sinh, hồng cầu của trẻ sơ sinh bị vỡ, giải phóng ra các sắc tố mật gây nên hiện tượng vàng da. Ở trẻ sơ sinh đủ tháng vàng da xảy ra vào ngày thứ 4 - 5 sau sinh và chấm dứt vào ngày thứ 9 - 10 trở đi. Nước tiểu trẻ có màu vàng chứng tỏ có sự chuyển hóa bilirubin theo nước tiểu ra ngoài. Đối với trẻ non tháng tình trạng vàng da kéo dài hơn. Vàng da sinh lý trẻ vẫn bú bình thường, tri giác của trẻ hoạt động linh hoạt.

Các bà mẹ cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn, có thể uống thêm nước và cho trẻ tắm nắng vào mỗi buổi sáng từ 7 giờ đến 8 giờ.

Trọng lượng giảm: sau chào đời được 3 - 4 ngày, đôi khi đến ngày thứ 6 thì có thể trẻ giảm từ 6 - 10% so với lúc mới sinh. Nguyên nhân do thay đổi môi trường mới nên trẻ có sự thích nghi đồng thời da của trẻ mỏng nên có sự thoát nước từ da cùa trẻ. Sau 2 tuần chăm sóc và bú đầy đủ trẻ sẽ lấy lại được cân nặng như ban đầu và bắt đầu tăng lên theo thời gian.

Nôn trớ: nôn là hiện tượng đẩy ngược các chất trong dạ dày qua miệng do các động tác gắng sức của cơ thể. Trớ xảy ra mỗi khi trẻ ăn no, sau mỗi lần rướn người hoặc thay đổi tư thế đột ngột. Nguyên nhân gây nôn trớ ở trẻ sơ sinh là do dạ dày trẻ nằm ngang so với người lớn dạ dày nằm dọc, hai đầu của dạ dày có hai cơ thắt, đầu trên nối với thực quản gọi là cơ thắt tâm vị, đầu dưới nối với tá tràng là cơ thắt môn vị, đặc tính của cơ thắt là đóng kín để giúp cho thức ăn trong dạ dày tiêu hóa. Nhưng trong giai đoạn sơ sinh cơ thắt tâm vị đóng lỏng lẻo, trong khi đó cơ thắt môn vị đóng kín, chính điều này làm cho trẻ dễ bị nôn trớ. Cách khắc phục: bú làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần bú không no quá. Không để trẻ khóc khi bú để tránh nuốt hơi gây căng dạ dày. Nếu bú bình, để đầu núm vú bình sữa luôn đầy sữa, không để bình sữa nằm nghiêng thấp. Khi bú xong, bế trẻ cao đầu trong 15 - 20 phút, vỗ lưng cho bé ợ hơi, sau đó đặt nằm nghiêng bên trái và kê gối hơi cao. Không để trẻ bú nằm ngay dễ bị sặc, trớ sữa và không tâng bé lên xuống sau khi bú.

Hắt hơi và nghẹt mũi: gây ra bởi sự kích ứng, như khi trẻ hít phải khói thuốc lá, bụi bẩn (nên tránh quạt trần trong phòng của trẻ vì quạt trần dễ phát tán bụi từ chỗ này đến chỗ kia), không khí khô (đặc biệt trong mùa thu, đông). Để tránh cho trẻ bị hắt hơi và nghẹt mũi, nên tránh những yếu tố gây kích ứng (lông động vật, khói thuốc lá, bụi bẩn), sử dụng máy tạo độ ẩm trong phòng, dùng thuốc nhỏ mũi hoặc hút mũi đúng cách. Thuốc nhỏ mũi cho trẻ là dung dịch natrichlorua 0,9%. Dụng cụ hút mũi cho trẻ dùng bóng cao su có khử trùng bằng đun nước sôi.

Nấc cụt: với các bé lớn và người lớn, có rất nhiều mẹo để chữa nấc cụt. Tuy nhiên, các bà mẹ không nên áp dụng các cách chữa nấc cụt của người lớn đối với trẻ sơ sinh. Các cơn nấc cụt ở trẻ sẽ tự nhiên biến mất không cần lo lắng quá nhiều.  Nếu trẻ bị nấc kéo dài, khoảng 5 - 10 phút, có thể vắt sữa mẹ ra thìa và cho bé mút vài thìa sữa mẹ hay nước lọc nên tránh để bé bú quá nhanh.

Cách chăm sóc trẻ sơ sinh những ngày đầu

Cách chăm sóc trẻ sơ sinh

Các chứng bệnh cần phải đưa trẻ đi khám bệnh

Vàng da bệnh lý: xuất hiện sớm trong vòng 36 giờ sau sinh, biểu hiện vàng da ở mặt, toàn thân và các chi, vàng sậm, kèm theo trẻ bú kém, vẻ mặt nhừ. Nguyên nhân có thể do nhiễm trùng sơ sinh, bất đồng nhóm máu mẹ -  con, thiếu hụt men G6PD (Gluco-6phosphat dehydrogenase) bẩm sinh. Nhất thiết phải cho trẻ đi khám bệnh viện nhi  ngay. Tùy thuốc vào mỗi nguyên nhân mà có cách điều trị thích hợp cho từng nguyên nhân đó.

Trẻ sốt: sốt tự bản thân nó không phải là một bệnh, mà là một cách phản ứng của cơ thể với một dạng bệnh phổ biến nhất đó là nhiễm trùng hay do phản ứng của tình trạng sau tiêm ngừa, hay trẻ thiếu nước. Ta xác định định khi cặp nhiệt độ 38 - 390C cần quan sát và theo dõi thêm các triệu chứng khác đi kèm như trẻ bỏ bú, ho, thở khò khè, quấy khóc… Các bà mẹ cần cho trẻ đi khám bệnh. Cách xử trí đầu tiên phải hạ sốt bằng efferalgan 80mg 1/2 - 2/3 gói và lau mát, cho trẻ uống nhiều nước.

Nhiễm trùng hô hấp: nguyên nhân do virút hoặc do vi trùng gây ra và rất phổ biến ở trẻ sơ sinh. Bệnh kéo dài một hoặc hai tuần với hiện tượng chảy nước mũi, sốt và bỏ bú trong một vài ngày, có thể ho kéo dài chừng 2 - 3 tuần. Thêm các triệu chứng nghiêm trọng đòi hỏi phải có sự chăm sóc của bác sĩ. Vì vậy, nhất thiết cho trẻ đi khám bệnh ngay.

BS. NGUYỄN THUẬN HẢI

Chú ý: Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Nguồn:
http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/cham-soc-tre-trong-nhung-ngay-thang-dau-doi-n62-2791

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Những điều cần lưu ý khi đưa trẻ đi tiêm chủng

Đưa trẻ đi tiêm ngừa là một việc làm hết sức cần thiết của các bậc Cha mẹ vì những lợi ích trong việc bảo vệ sức khoẻ cho trẻ nhằm để tránh những hậu quả đáng tiếc về sau.. [..]

Trong những năm gần đây dưới sự tác động mạnh mẽ và hiệu quả của chương trình tiêm chủng quốc gia cùng với sự phát triển mạnh của đất nước đã làm cho ý thức tiêm ngừa của người dân ngày một nâng cao và việc tiêm ngừa trở nên phổ biến trong dân chúng. Ngoài việc tiêm ngừa các bệnh theo qui định của chương trình quốc gia các bậc cha mẹ còn đưa con em của mình tiêm ngừa thêm một số bệnh khác mà trong chương trình tiêm chủng mở rộng không có, đây quả là một tín hiệu đáng mừng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho con em của chúng ta.

Tuy nhiên trong quá trình đưa trẻ đi tiêm ngừa đã có không ít những bà mẹ băn khoăn lo lắng và không hiểu rõ khi nào thì đưa bé đi tiêm ngừa được? sau khi tiêm xong thì phải làm gì…? Để giúp cho các bậc phụ huynh hiểu rõ và an tâm hơn trong việc đưa các cháu bé đi tiêm ngừa chúng tôi xin cung cấp một vài điều cần chú ý khi tiêm ngừa.

Lịch tiêm chủng:

Tuổi

Loại vắc xin, huyết thanh phòng bệnh

Lịch tiêm chủng nhắc lại cho trẻ dưới 15 tuổi

<24h
Huyết thanh phòng viêm gan B: Nếu mẹ HBsAg (+)
Viêm gan B: Phòng bệnh viêm gan B

<1 tháng
BCG: Phòng bệnh lao.

2-6 tháng
BH-HG-UV-BL mũi 1,2,3: Phòng bệnh Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt.
Viêm gan B mũi 2,3,4: Phòng bệnh viêm gan B( nếu tiêm vắc xin phối hợp)
Hib mũi 1,2,3 : Phòng bệnh Viêm mũi họng,Viêm phế quản quản phổi và viêm màng não mủ do vi khuẩn Heamophilus influenzea
Vắc xin Rota virut: Phòng bệnh tiêu chảy do Rota virut
Phòng bệnh Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Bại liệt : Nếu trẻ được tiểm đầy đủ các mũi cơ bản trong năm đầu, nhắc lại 1 mũi khi 16-18 tháng và vào độ tuổi đi học ( 5-13 tuổi )có thể nhắc lại lần 2
Phòng viêm gan B và viêm phế quản phổi do Hib : nếu trẻ đã tiêm đầy đủ các mũi trong năm đầu, nhắc lại 1 mũi khi 16-18 tháng
6-11 tháng
Cúm mũi 1,2: phòng bệnh cúm
Nếu trẻ đã tiêm chủng 2 mũi cơ bản ( với trẻ < 8 tuổi), sau đó mỗi năm tiêm nhắc lại 1 lần.
12-15 tháng
Viêm não nhật bản B: Phòng bệnh viêm màng não do virut Viêm não nhật bản B


Thuỷ đậu: Phòng bệnh thuỷ đậu


Sởi, Quai bị, Rubella 1 : Phòng bệnh Sởi, Quai bị và Rubella( Sởi Đức)
Viêm gan A mũi 1: Phòng bệnh viêm gan A
Phòng bệnh viêm màng não do virut viêm não nhật bản B: Nếu trẻ đã tiêm đủ 3 mũi cơ bản, sau đó 3 năm nhắc lại 1 lần( tốt nhất là trước mùa hè)

Phòng bệnh thuỷ đậu: Nên tiêm nhắc lại mũi 2 sau mũi 1 ít nhất là 6 tuần.
Phòng bệnh Sởi, Quai bị, Rubella: Nếu trẻ tiêm mũi 1 lúc 9 tháng tuổi, cần nhắc lại mũi 2 sau đó 6-12 tháng và mũi 3 sau đó 4 năm.Nếu trẻ tiêm mũi 1 khi trẻ > 12 tháng,  chỉ cần nhắc lại mũi 2 sau 4 năm
16-23 tháng
BH-HG-UV-BL mũi 4
Hib mũi 4
Viêm gan B mũi 4
Viêm gan A mũi 2



Viêm gan A: Tiêm mũi 2 sau mũi 1 từ 6-12 tháng
> 24 tháng
Meningo A+C: Phòng bệnh viêm màng não mủ do vi khuẩn não mô cầu typ A, typ C
Viêm não nhât bản mũi 3
Pneumo 23: Phòng bệnh viêm mũi họng, viêm phổi, viêm màng não do vi khuẩn phế cầu ( 23 typ gây bệnh)
Thương hàn: Phòng bệnh thương hàn.


Tả: Phòng bệnh tả

Phòng bệnh viêm màng não mô cầu A+C: Sau mũi tiêm đầu tiên, 3-5 năm sau tiêm nhắc lại 1 lần.
Phòng bệnh viêm phổi, viêm màng não do phế cầu: Sau mũi tiêm đầu tiên, 3-5 năm sau nhắc lại một lần( với những trường hợp nguy cơ cao)
Phòng bệnh thương hàn: Sau mũi tiêm đầu tiên, cứ 3 năm nhắc lại 1 lần (nếu sống trong vùng dịch lưu hành).
Phòng bệnh tả: Sau 2 liều cơ bản, hàng năm nhắc lại 1 lần (Nếu sống trong vùng dịch lưu hành)
>9 tuổi
Vắc xin phòng bệnh do Human Papilloma Virus ( HPV): Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung và sùi mão gà ở bộ phận sinh dục.


Khi nào thì đưa trẻ đi tiêm ngừa?
Lứa tuổi tiêm ngừa:

Đối với các trẻ nhỏ hơn 12 tháng việc tiêm ngừa nên được thực hiện theo yêu cầu của chương trình y tế quốc gia. Ngoài ra trong lứa tuổi này trẻ có thể tiêm được 2 loại vắc xin khác ngoài chương trình đó là: Vắc xin ngừa Viêm màng não mủ HIB, và vắc xin ngừa Cúm.
Trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên việc tiêm ngừa trong chương trình tiêm chủng quốc gia không còn tiếp tục nữa, khi đó các bạn nên đưa con em của mình đến các trung tâm tiêm ngừa để được tiêm các loại vắc xin khác cần thiết cho trẻ như:
  • Tiêm nhắc lại Bạch hầu-Ho gà-Uốn ván-Bại liệt.
  • Tiêm nhắc lại Viêm gan siêu vi B.
  • Viêm màng não mủ do HIB
  • Viêm não Nhật Bản
  • Viêm màng não mủ do não mô cầu A+C
  • Trái rạ
  • Sởi - Quai bị- Rubella
  • Thương hàn
  • Cúm
  • Viêm màng não-viêm phổi do phế cầu, ….
Tình trạng sức khoẻ của bé: Các trường hợp sau đây vẫn có thể cho trẻ tiêm ngừa như thường lệ:
  • Trẻ bị sốt nhẹ
  • Trẻ đang bị tiêu chảy nhẹ.
  • Trẻ bị suy dinh dưỡng.
  • Trẻ bị ho, chảy mũi…mà hiện không có sốt.
  • Trẻ đang mọc răng, đang được đi du lịch…
Những điều cần lưu ý khi đưa trẻ đi tiêm chủng

Sức khỏe trẻ em

Khi nào không nên đưa trẻ đi tiêm ngừa: Trong một số trường hợp việc tiêm phòng có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm cho trẻ. Những trường hợp này việc tiêm phòng sẽ được hoãn lại và chờ ý kiến quyết định của BS chuyên khoa. Những trường hợp đó gồm có:

Trẻ đang sốt cao.
  • Trẻ đang mắc bệnh nhiễm khuẩn cấp tính.
  • Đang bị viêm da mủ, hoặc bệnh chàm ngoài da (eczéma).
  • Trẻ đang mắc một bệnh mãn tính đang tiến triển như lao phổi, tràn dịch (có nước) màng phổi..., nhất là đang có bệnh ở thận (như viêm thận mạn tính v.v...).
  • Trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, nhưng còn đang trong thời kỳ hồi sức.
  • Trong từng trường hợp các  Bác sĩ sẽ xem xét cụ thể tình trạng của bé và quyết định có nên tiêm ngừa hay không.
Một số phản ứng sau khi tiêm ngừa?
  • Sốt: sau khi tiêm trẻ có thể bị sốt nhẹ, đây là phản ứng bình thường của cơ thể với thuốc tiêm ngừa và có thể hoàn toàn tự khỏi sau 1-2 ngày. Một số trẻ có thể bị sốt cao từ 390C trở lên khi đó các cháu mới cần đến việc dùng thuốc hạ sốt. Do đó chúng ta hoàn toàn không nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt dự phòng ngay sau khi trẻ vừa được tiêm ngừa vì làm như vậy là hoàn toàn không có lợi và đôi khi sẽ gây nguy hiểm cho trẻ.
  • Chỗ tiêm bị sưng đỏ, đau…vấn đề này có thể tồn tại đến vài ngày nhưng đây hoàn toàn là phản ứng bình thường và sẽ tự khỏi, không đáng ngại. có thể dùng phương pháp chườm lạnh ở chổ tiêm để làm giảm đau cho trẻ.
  • Dị ứng: có thể là Ban mề đay, ngứa toàn thân… phản ứng này thường xảy ra ở trẻ có hay bị dị ứng, các biểu hiện dị ứng này thường tự khỏi sau 1 vài ngày, nhưng nếu trẻ thấy khó chịu nhiều thì đôi khi phải dùng một số thuốc chống dị ứng.
  • Một số phản ứng khác: hiếm gặp hơn như tai biến thần kinh, viêm hạch, viêm não...các phản ứng này thường nặng và cần phải có sự chăm sóc tích cực của thấy thuốc.
Việc tiêm ngừa cho trẻ luôn luôn là cần thiết, vì những lợi ích to lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ của trẻ, những phản ứng tạm thời của 1 số trường hợp không gây nguy hại cho trẻ, và cũng không làm giảm tác dụng phòng bệnh của việc tiêm ngừa.

Chỉ có 1 số trường hợp cần tránh tiêm ngừa trong 1 thời gian. 
Trước khi cho trẻ tiêm ngừa, bà mẹ nên báo cho nhân viên tiêm phòng biết về tình trạng sức khoẻ trước đây và hiện nay của trẻ, để nhân viên y tế cân nhắc trước khi tiêm ngừa và có thể hoãn lại ngày tiêm nếu cần thiết. Tốt hơn nữa, nên hỏi ý kiến của thầy thuốc trước khi đưa trẻ đến nơi tiêm phòng.

Sau khi tiêm ngừa vẫn cho trẻ tắm rửa, ăn uống như thường lệ, và nên theo dõi tình trạng sức khoẻ của bé sau 1 thời gian.

Chú ý:

Các loại vắc xin tiêm ngừa sẽ phát huy hiệu quả cao nhất nếu bạn tiêm đủ liều và đúng theo lịch tiêm ngừa.
Phải chủ động tiêm ngừa trước khi có dịch bệnh xảy ra, không nên thấy có dịch bệnh rồi mới đi tiêm ngừa vì như vậy hiệu quả của việc tiêm ngừa sẽ không cao, và rất dễ xảy ra tình trạng thiếu thuốc tiêm ngừa.
TH
Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hứơng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Suy dinh dưỡng với trẻ nhỏ


Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Đây là tình trạn.. [..]

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Đây là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Làm thế nào để phòng tránh suy dinh dưỡng? Cha mẹ cần quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ thế nào?

Vì sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Suy dinh dưỡng ở trẻ thường do tổng hợp nhiều nguyên nhân gây ra như:

- Do dinh dưỡng: Trẻ không được bú sữa mẹ, cho ăn dặm không đúng cách, không biết cách lựa chọn thực phẩm phù hợp với trẻ, cho trẻ ăn quá ít lần trong ngày, kiêng khem quá mức khi trẻ bị bệnh.

- Do ốm đau kéo dài: Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lỵ…

- Do thể tạng dị tật: Trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, các dị tật sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh.

- Do điều kiện kinh tế - xã hội: Suy dinh dưỡng là một bệnh do ảnh hưởng của nghèo nàn và lạc hậu, có liên quan đến kinh tế, văn hóa, dân trí.

Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn như trẻ hoạt động quá nhiều, hoặc sống trong môi trường quá nóng, quá lạnh, làm tiêu hao năng lượng nhiều; hoặc trẻ bị bệnh nặng có nhu cầu các dưỡng chất cao mà không được cung cấp tăng cường.

Muốn biết trẻ có bị suy dinh dưỡng hay không các bà mẹ cần phải theo dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ trên biểu đồ phát triển. Nếu thấy 2 - 3 tháng liền trẻ không tăng cân cần phải đưa trẻ đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.

Theo tiêu chuẩn cân nặng/tuổi người ta chia suy dinh dưỡng làm 3 độ:

- Suy dinh dưỡng độ I: Trọng lượng còn 90% so với tuổi

- Suy dinh dưỡng độ II: Trọng lượng còn 75% so với tuổi

- Suy dinh dưỡng độ III: Trọng lượng còn dưới 60% so với tuổi.

Những nguy cơ của suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi; là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý hô hấp, tiêu chảy… xảy ra và kéo dài, bệnh lý làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng và vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trở nên nặng nề hơn; Ảnh hưởng đến phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.

Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.

Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ

Giai đoạn sớm: Thường chỉ có biểu hiện đứng cân kéo dài hay sụt cân.

Giai đoàn toàn phát: Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh, chậm biết bò trườn, đi đứng, chậm mọc răng. Khi thăm khám thấy có thể biểu hiện của thể phù, thể teo đét hay hỗn hợp.

Thể phù: Trẻ chỉ được nuôi bằng chất bột, thiếu tất cả những chất dinh dưỡng đa lượng có cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng vi lượng khác. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là: Phù trắng, mềm toàn thân; Rối loạn sắc tố da; Da xanh, niêm nhạt, suy thoái ở da, lông, tóc, móng; Còi xương;  Chậm phát triển tâm thần, vận động: Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh, chậm biết bò trườn, đi đứng, chậm mọc răng.

Thể teo đét: Trẻ thiếu dinh dưỡng toàn bộ, cân nặng còn dưới 60% so với cân nặng trẻ bình thường. Mất toàn bộ lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi, trẻ teo đét, chi còn da bọc xương, vẻ mặt như cụ già. Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi, không ăn hoặc kém ăn. Thường xuyên có rối loạn tiêu hóa: tiêu chảy, phân sống.

Thể hỗn hợp: Thể phù sau khi điều trị phục hồi một phần, hết phù trở thành teo đét nhưng gan vẫn thoái hoá mỡ.


Suy dinh dưỡng với trẻ nhỏ

Sức khỏe trẻ em

Làm gì khi trẻ bị suy dinh dưỡng?

Với thể vừa và nhẹ (độ I và độ II): Điều trị tại nhà bằng chế độ ăn và chăm sóc.

- Chế độ ăn: Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm,  nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa cần bổ sung các loại sữa bột công thức theo tháng tuổi, hoặc dùng sữa đậu nành (đậu tương).

Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên cho trẻ ăn bổ sung theo tháng tuổi, đảm bảo đầy đủ 4 nhóm thực phẩm: đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất nhưng số bữa ăn phải tăng lên, thức ăn phải nấu kỹ, nấu xong ăn ngay.

Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn bằng cách cho tăng thêm men tiêu hóa trong các hạt nảy mầm để làm lỏng thức ăn và tăng độ nhiệt lượng của thức ăn. Cụ thể là: có thể dùng giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn cho trẻ, tức là có thể tăng lượng bột khô lên 2 - 3 lần mà độ lỏng của bột không thay đổi. Cứ 10g bột cho 10g giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước.

Với trẻ suy dinh dưỡng nặng (độ III): Cho ăn nhiều bữa trong ngày; Tăng dần calo; Dùng sữa cao năng lượng theo chỉ định và tư vấn trực tiếp của bác sĩ.

Trẻ cần được ăn bổ sung theo các chế độ ăn giống như trẻ bình thường. Số lượng một bữa có thể ít hơn nhưng số bữa ăn nhiều hơn trẻ bình thường. Những trẻ có suy dinh dưỡng nặng kèm theo tiêu chảy hoặc viêm phổi phải đưa vào điều trị tại bệnh viện.

Theo suckhoevadoisong

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Hãy gọi điện cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Nguồn: http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/suy-dinh-duong-voi-tre-nho-n62-2680

Bệnh còi xương trẻ em do thiếu canxi


Còi xương (CX) là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu vitamin D, hoặc do rối loạn chuyển hoá vitamin D trong cơ thể. Là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Vậy tại.. [..]

Còi xương (CX) là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu vitamin D, hoặc do rối loạn chuyển hoá vitamin D trong cơ thể. Là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Vậy tại sao bệnh còi xương do thiếu vitamin D vẫn tồn tại nhiều năm nay ở nước ta khi quanh năm nắng ấm?

Bệnh còi xương trẻ em do thiếu canxi

Sức khỏe trẻ em

1. Nguyên nhân còi xương: do thiếu vitamin D là yếu tố giúp tạo xương. Ngoài vitamin D cung cấp từ nguồn thức ăn, vitamin D còn được cơ thể tự tổng hợp dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời.

Vitamin D tồn tại dưới 2 dạng là cholecalciferol (vitamin D3)- từ nguồn động vật, và ergocalciferol (vitamin D2)- do nhân tạo tăng cường vào thực phẩm, cả hai dạng được gọi chung là calciferol.

Nguyên nhân thiếu vitamin D:

Thiếu ánh nắng mặt trời: đây là nguyên nhân hay gặp nhất do thói quen kiêng cữ, sợ trẻ tiếp xúc nắng sớm sẽ hay bị ốm, mặc nhiều quần áo. Điều này rất đáng buồn vì nước ta là nước nhiệt đới hầu như quanh năm ánh nắng thừa thãi vậy mà tỷ lệ còi xương vẫn cao chỉ vì thiếu hiểu biết không cho con trẻ phơi nắng.
Các bà mẹ cần lưu ý trẻ 2 tuần tuổi đã cần được phơi nắng: tốt nhất là vào buổi sáng (khoảng 7h-8h) nếu không có thời gian thì buổi chiều (khoảng 4h-5h). Trung bình yêu cầu 2 tiếng/tuần hay 10-15'/ngày tùy vào khả năng phơi nắng của trẻ và mức độ phát triển xương vận động (nếu trẻ ít ốm hoặc trẻ có biểu hiện của chớm còi xương có thể phơi nắng lâu hơn).

Trẻ bú mẹ hoàn toàn nhưng nguồn vitamin D trong sữa mẹ thấp do mẹ không /ít tiếp xúc ánh nắng.
Sai lầm trong chế độ ăn dặm của trẻ:
+ Ăn sữa bò ở trẻ dưới 1 tuổi: là lứa tuổi nhu cầu vitamin D đang rất cao và nguồn dự trữ canxi hay thiếu hụt ở trẻ đẻ nhẹ cân, đẻ non vì vậy ở những trẻ này rất dễ thiếu vitamin D dẫn đến còi xường.

+ Trẻ ăn quá nhiều chất bột, đạm (thịt) gây tình trạng toan chuyển hóa và tăng đào thải canxi ra nước tiểu. Chế độ ăn thiếu dầu mỡ.

+ Không dùng sản phẩm sữa hay không uống sữa.

+ Bất dung nạp lactose nên không dùng được sữa và tiêu hóa sữa kém

+ Những rối loạn làm giảm tiêu hóa và hấp thu chất béo cũng làm giảm hấp thu vitamin D.

+ Bất dung nạp lactose nên không dùng được sữa và tiêu hóa sữa kém

Bệnh còi xương trẻ em do thiếu canxi

Bệnh còi xương trẻ em do thiếu canxi

Các yếu tố thuận lợi khác: tuổi (càng nhỏ càng dễ bị còi xương), đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, bệnh nhiễm khuẩn, trẻ rối loạn tiêu hoá kéo dài, người da màu dễ mắc còi xương do tình trạng sắc tố cuarda cũng ảnh hưởng đến sự bức xạ của tia cực tím.

2. Các phát hiện những biểu hiện của còi xương:

Các biểu hiện ở hệ thần kinh:

+ Trẻ ra mồ hôi nhiều kể cả ban đêm (mồ hôi trộm)

+ Trẻ kích thích khó ngủ, hay giật mình

+ Rụng tóc gáy (do trẻ ra mồ hôi nhiều)

+ Đối với còi xương cấp có thể gặp: tiếng thở rít thanh quản, cơn khóc lặng, hay nôn, nấc khi ăn. Có thể co giật do hạ calci máu.

Trẻ chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, chậm biết bò.
Các biểu hiện ở xương:
+ Thóp chậm liền, bờ thóp mềm, bướu trán, bướu đỉnh.

+ Chậm mọc răng, răng hay bị sâu, răng mọc lộn xộn

+ Lồng ngực hình gà, chuỗi hạt sườn.

+ Vòng cổ chân, vòng cổ tay, xương chi dưới bị cong tạo thành hình chữ X, O

Toàn thân: nếu không được điều trị, trẻ chán ăn, suy dinh dưỡng, da xanh thiếu máu, lách to.
Khi cần có thể làm các xét nghiệm để khẳng định bệnh và xác định mức độ bệnh:

Phosphatase kiềm, Calci máu, phospho máu, chụp XQ xương

3. Điều trị:

Nên theo đơn thuốc điều trị của bác sỹ chuyên khoa, vì vitamin D rất dễ bị quá liều gây ngộ độc thần kinh nguy hiểm cho trẻ.

Lưu ý trong sinh hoạt và chế độ ăn:

+ Tăng cường vitamin D từ thức ăn: trứng, sữa, bơ, gan cá là những nguồn giàu vitamin D.

+ Sữa và các chế phẩm thường được dùng để tăng cường vitamin D. Ngoài ra, một số thức ăn khác như bột dinh dưỡng cho trẻ em, thức ăn chế biến sẵn, bột mỳ cũng được tăng cường thêm vitamin D.

+ Nhưng lưu ý nguồn thức ăn này chỉ cung cấp rất ít vitamin D, khoảng 20-40UI/ngày

+ Phơi nắng đều đặn khi trời nắng đẹp: Khi da được tiếp xúc với tia cực tím, ví dụ ánh sáng mặt trời thì 7-dehydro cholesterol ở trong da sẽ chuyển đổi thành vitamin D3.

4. Phòng bệnh

Với mẹ: nên phòng từ khi có thai bằng cách:

Mẹ nên tiếp xúc ánh nắng hàng ngày
Mẹ uống ở quý cuối cùng của thời kỳ thai nghén nên bổ sung 1000 đến 1200UI/ngày hoặc một lần duy nhất 100.000 -200.000UI từ tháng thứ bảy, nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc ánh nắng mặt trời.
Với bé:

Ăn uống: tốt nhất là bú mẹ. Sau giai đoạn cai sữa vẫn tiếp tục uống sữa công thức tối thiểu 300ml/ngày, ăn tăng các loại đạm từ tôm cua cá trong bữa bột cháo hàng ngày. Tránh ăn dặm bột quá sớm khi trẻ mới 3, 4 tháng tuổi rất dễ gây còi xương.
Tắm nắng, chơi ngoài trời với thời gian thích hợp 10-15' mỗi ngày vào sáng hoặc chiều.
Phòng bệnh đặc biệt bằng vitamin D: 400UI/ngày (đặc biệt cần với trẻ đẻ nhẹ cân thiếu tháng: vì giai đoạn 6 tuần trước sinh, bào thai được cung cấp tới 1/2 lượng canxi dự trữ của cả quá trình phát triển thai. Những trẻ này cần được bổ sung vitamin D ngay từ khi mới sinh cho tới khi trẻ đạt đến 2kg, hoặc bổ sung liên tục trong 6 tháng đầu, cùng với bú mẹ
Bên cạnh đó để đảm bảo cho quá trình khoáng hoá xương tốt, bên cạnh bổ sung vitamin D cần bổ sung kèm theo Calci và phosphor đặc biệt ở trẻ nhẹ cân theo khuyến cáo mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 với liều bổ sung calcium 2 mmol/kg thể trọng/ngày và phosphorus 0,5 mmol/kg thể trọng/ngày.
Bác sỹ, Thạc sỹ Phan Bích Nga

Trung Tâm Khám Tư vấn Dinh dưỡng Viện Dinh Dưỡng

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về bệnh còi xương do thiếu vitamin D. Hãy gọi cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia

Nguồn: http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/benh-coi-xuong-do-thieu-canxi-n62-2656

Giúp trẻ 1-3 tuổi phát triển vốn từ vựng


Cha mẹ nên tập cho trẻ nói thường xuyên, đồng thời tạo cơ hội để bé tiếp xúc với nhiều sự vật, hiện tượng, tình huống để tăng vốn từ vựng. Bên cạnh đó, nên đọc sách báo c.. [..]

Cha mẹ nên tập cho trẻ nói thường xuyên, đồng thời tạo cơ hội để bé tiếp xúc với nhiều sự vật, hiện tượng, tình huống để tăng vốn từ vựng. Bên cạnh đó, nên đọc sách báo cho bé nghe để giúp hình thành thói quen đọc sách từ nhỏ.

Chia sẻ với phụ huynh về kỹ năng dạy nói cho trẻ, thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh cho biết, để giúp bé phát triển khả năng nói tốt, cha mẹ cần nắm rõ các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1 đến 3 tuổi như sau:

1. Hoàn thiện khả năng thông hiểu lời nói của người lớn (nghe hiểu):

Ban đầu trẻ chỉ hiểu về tình huống khi chứng kiến tình huống cụ thể đó. Ví dụ trẻ hiểu lời nói “đánh trống” khi trẻ nhìn thấy một người đang đánh trống hoặc chính trẻ đang cầm dùi đánh vào trống. Theo đó, lời nói “đánh trống” biểu đạt cho toàn bộ tình huống này. Trẻ sẽ không thể hiểu lời nói “đánh trống” khi nó tách khỏi tình huống cụ thể.

Có thể tóm tắt khả năng thông hiểu của trẻ ở giai đoạn này như sau: Tình huống cụ thể + Lời nói = Tín hiệu hành động của trẻ.

Sự kết hợp giữa ngôn ngữ với tình huống cụ thể khi được lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần bé sẽ hiểu được lời nói mà không phụ thuộc vào tình huống cụ thể nữa. Vì thế người lớn có thể dùng lời nói để chỉ dẫn hành động cho các em (yêu cầu bé cầm hay lấy một đồ vật nào đó), từ đó giúp trẻ mở rộng giao tiếp với mọi người.

Việc nghe và hiểu lời nói vượt ra khỏi tình huống cụ thể là một thành tựu quan trọng của trẻ. Nó giúp bé biết sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện cơ bản để nhận thức thế giới xung quanh.

Giúp trẻ 1-3 tuổi phát triển vốn từ vựng

Sức khỏe trẻ em

2. Ngôn ngữ tích cực

Sau 2 tuổi là thời kỳ phát triển ngôn ngữ. Trẻ không chỉ đòi hỏi biết được tên đồ vật, mà còn cố gắng phát ra các âm để gọi tên các đồ vật đó.

Vốn từ của trẻ qua từng giai đoạn:

- Từ cuối năm thứ 2, các em nói được 300 đến 400 từ. Trẻ lên 2 thường nói ngọng, ngôn ngữ của bé khá khác của người lớn, ví dụ “ăn”, thì nói là “măm”, “thịt” thành “xịt”… Người ta gọi ngôn ngữ đó là ngôn ngữ tự trị. Sở dĩ trẻ nói như thế là do nhiều nguyên nhân: Người lớn thích nói vậy khi âu yếm trẻ, do các em nghe không chuẩn nên phát âm bị méo tiếng, hoặc do vốn từ của trẻ còn nghèo nàn nên phải tự nghĩ ra một số từ để giao tiếp với người lớn...

- Cuối năm thứ ba, trẻ nói được khoảng 1.000 từ.

3. Ngữ pháp

Để diễn đạt được nguyện vọng của mình cho người lớn hiểu, trẻ phải nắm được ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ. Lúc đầu, trẻ dùng câu một tiếng, ví dụ “măm măm” tức là “Mẹ cho con ăn”. Sau đó trẻ dùng câu hai tiếng theo mô hình chủ ngữ –vị ngữ, ví dụ “mẹ bế”, “mẹ xúc”, cũng có lúc trẻ nói ngược “bế mẹ”.

Đến 3 tuổi, ngôn ngữ tích cực của trẻ phát triển mạnh mẽ, bé rất thích nói và nói suốt ngày. Thế mới có câu “Trẻ lên 3 cả nhà học nói”. Lúc này, các em đã nói được những câu dài như “Con khóc vì ba mắng con”, “Ai hư thì không được phiếu bé ngoan”.

Một số lưu ý trong quá trình dạy nói cho trẻ:

- Cần dạy trẻ nói đúng và sửa sai cho bé thì ngôn ngữ tự trị sẽ mất đi nhanh chóng.

- Gia đình nên tập nói thường xuyên cho trẻ, tạo cơ hội để trẻ tiếp xúc nhiều sự vật, hiện tượng, tình huống để tăng vốn từ vựng.

- Nên đọc sách báo cho trẻ nghe, từ đó giúp các em hình thành thói quen thích đọc sách từ nhỏ.

Theo giadinh

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe, bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008908 hoặc 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Nguồn: http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/giup-tre-13-tuoi-phat-trien-von-tu-vung-n62-2645

Cách lựa chọn sữa cho bé yêu

Sữa là nguồn dinh dưỡng đặc biệt và thường được coi là một thực phẩm hoàn hảo và toàn diện nhất có sẵn trong thiên nhiên. Tại các quốc gia phát triển, sữa và chế phẩm từ .. [..]

Sữa là nguồn dinh dưỡng đặc biệt và thường được coi là một thực phẩm hoàn hảo và toàn diện nhất có sẵn trong thiên nhiên. Tại các quốc gia phát triển, sữa và chế phẩm từ sữa được tách ra là một nhóm thực phẩm riêng từ nhóm thức ăn cung cấp chất đạm, cần có mặt trong thực đơn của mọi lứa tuổi.

Trong những năm gần đây các mặt hàng sữa ngày càng phong phú với sự góp mặt hầu hết các công ty sữa lớn trên thế giới và hàng trăm nhãn hiệu khác nhau phục vụ cho nhiều nhu cầu đa dạng, và làm không ít người tiêu dùng cảm thấy lúng túng trong việc chọn lựa một loại sữa phù hợp với nhu cầu và khả năng kinh tế của mình.

Như chúng ta đã biết sữa mẹ là thực phẩm tự nhiên hoàn hảo nhất đối với trẻ nhỏ, tuy nhiên vì một số nguyên nhân nào đó như mẹ không có sữa, mẹ bệnh phải cách ly với trẻ , mẹ phải dùng thuốc đặc trị , một số trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Nhằm tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của tất cả trẻ nhỏ, các nhà khoa học và chuyên gia y tế đã mất nhiều công sức để chế tạo ra những loại sữa công thức gần giống với sữa mẹ.

Nói chung, các loại sữa công thức được phân loại chủ yếu dựa vào loại protein và loại đường có trong sữa. Thành phần protein sữa bò, chất béo được điều chỉnh và được bổ sung thêm vi chất dinh dưỡng và khoáng chất như sắt, DHA, ARA, cholin, phù hợp cho từng lứa tuổi.

Loại sữa nào phù hợp cho con bạn?

Quyết định sử dụng loại sữa công thức nào phù hợp bạn cần dựa trên những tiêu chí sau: sức khỏe của trẻ, tuổi, nhu cầu dinh dưỡng, giá cả.

Sau đây là một số kiến thức cơ bản giúp bạn chọn sữa cho trẻ

Sữa cho trẻ dưới 1 tuổi:

1. Sữa dành cho trẻ sanh non nhẹ cân: ví dụ như Frisolac Premature, Enfalac Premature, Dumex Premature….Nếu trẻ có cân nặng dưới 2500g, bạn nên sử dụng nhóm sữa này để nuôi trẻ.

  • -          Chứa protein, vitamine và khoáng chất cao phù hợp cho trẻ sanh non.
  • -          Năng lượng cao hơn so với sữa bình thường (0,7-0,75Kcal/ml so với 0,67Kcal/ml)

Ngoài ra , ở những nước đã phát triển còn có dạng sữa mẹ đóng hộp được bổ sung thêm vi chất như Enfamil Human Milk Fortifier, Similac Natural Care Human Milk Fortifier, Similac Human Milk Fortifier…

2. Sữa công thức dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi: ví dụ như Similac, Enfalac, SMA, Dielac1, Cô gái Hà Lan step1, Lactogen1, Dumex 1, Guigoz 1, NAN 1 …

  • -        Loại sữa này phù hợp cho trẻ sơ sinh (có cân nặng lúc sanh trên 2500gr) tới 6 tháng tuổi vì dễ tiêu hóa và có tỉ lệ canci/ phospho =2:1, tỉ lệ này toái ưu cho thận của trẻ nhỏ và tăng cường hấp thụ canxi.
  • -        Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng khi trẻ bú được 150ml/kg cân nặng/ngày.

3. Sữa dành cho trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi: ví dụ như Enfapro, Gain, Cô gái Hà Lan step 2, Dielac 2 ...

Trẻ sau 6 tháng tuổi cần được cho ăn dặm đa dạng với đầy đủ 4 nhóm thực phẩm gồm chất béo, tinh bột, đạm, rau và trái cây. Sự tăng cân của trẻ không còn phụ thuộc nhiều vào chế độ sữa như trẻ dưới 6 tháng tuổi. Trẻ chỉ cần bú 500 – 800ml sữa/ ngày là đủ, phụ thuộc vào cân nặng hiện tại của trẻ.

Sữa dành cho trẻ trên 1 tuổi: ví dụ như Cô gái Hà lan 123, Enfagrow, Dielac3, Dugro, Nestlé 1+...... Có thể chia ra loại trên 3 tuổi và trên 6 tuổi do tuỳ theo nhu cầu ưu tiên chất dinh dưỡng theo lứa tuổi như nhiều canxi hơn, nhiều chất giúp tăng cường chống nhiễm khuẩn hơn, nhưng nói chung thì tương đối không khác nhau nhiều và sự lựa chọn không cần chặt chẽ quá do trẻ còn ăn thêm nhiều thực phẩm khác nữa. Trẻ cần uống  khoảng 300-500ml sữa mỗi ngày.

Cách lựa chọn sữa cho bé

Sức khỏe trẻ em

Nhóm sữa dành cho các nhu cầu đặc biệt

1. Nhóm không có đường lactose: Nhóm sữa này thường dùng cho trẻ có ruột bị kích thích, đầy hơi, tiêu lỏng do nhạy cảm với đường lactose. Dựa vào nguồn đạm có trong sữa, nhóm này được phân làm 2 loại:

  • -          Gốc động vật: ví dụ như Dumex lacto-free, Similac Lactose Free, Enfalac Lactose Free …
  • -          Gốc thực vật: ví dụ như Prosobee, Nursoy, Isomil….

2. Sữa thủy phân: Sữa không chứa đường lactose và protein sữa bò đã bị thủy phân nên dễ tiêu hóa dùng cho trẻ bị dị ứng sữa bò: Nutramigen, Pregestimil và Alimentum. Ngoài ra, có thể dùng cho trẻ từ sơ sinh bị rối loạn tiêu hóa, ăn uống bất cứ loại gì cũng tiêu chảy, không dung nạp được thức ăn do tiêu chảy nặng kéo dài, bệnh lý mổ cắt ruột nhiều, suy dinh dưỡng dạng teo đét.

Do vậy nếu gia đình bạn có tiền căn dị ứng thức ăn hoặc trẻ bị dị ứng sữa bò, bạn nên chọn sữa đậu nành hoặc sữa thủy phân nếu trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Tuy nhiên cũng có một số trẻ dị ứng sữa bò có phản ứng dị ứng chéo với sữa đậu nành.

3. Sữa dành cho trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản: Một số sữa công thức có bổ sung thêm tinh bột gạo (ví dụ như Enfamil AR), hoặc bổ sung thêm chất gôm thiên nhiên có đặc tính làm đặc sữa giúp giảm nôn trớ và nuôi dưỡng các vi khuẩn có ích trong ruột, làm tăng thể tích và độ dẻo của phân, ngăn ngừa táo bón và các cơn đau co thắt (ví dụ như Frisolac Comfort).

4. Nhóm sữa không chất béo: Sữa không chất béo chứa ít năng lượng và không chứa cholesterol thường được sử dụng cho đối tượng có nhu cầu canxi nhưng không muốn tăng cân hoặc cần kiêng chất béo như trong bệnh lý rối loạn chuyển hóa lipid, cholesterol cao, tiểu đường hoặc do kém hấp thu chất béo như bệnh lý gan mật, tiêu hóa

Khi đã chọn xong loại sữa, bạn cần chú ý những vấn đề sau

Nên:

  • - Xem thời gian sử dụng trên nhãn sữa.
  • - Pha chế sữa đúng theo hướng dẫn được ghi trên nhãn sữa vì nếu pha sữa đặc có thể dẫn đến tình trạng rối loạn điện giải và tổn thương thận của trẻ, ngược lại nếu pha sữa lỗng sẽ làm trẻ ảnh hưởng sự tăng trưởng của trẻ và có thể gây suy dinh dưỡng.
  • - Phải rửa tay trước khi cầm vào bình sữa và khi cho trẻ bú.
  • - Cần tiệt trùng bình sữa trước khi pha chế.
  • - Sau khi trẻ đã bú xong nên đổ bỏ phần sữa còn thừa lại vì vi trùng trong nước bọt của trẻ sẽ sống và tăng sinh trong phần sữa đó.

Không nên:

  • - Ủ hoặc để tủ lạnh sữa đã được pha mà không sử dụng ngay.
  • - Hâm nóng sữa bằng lò vi sóng vì nhiệt độ của sữa có thể rất cao mặc dầu bình sữa khi bạn chạm vào không nóng.
  • - Dùng nước rau để pha sữa.

Theo Bệnh viện Nhi đồng 1

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em, nếu có những thắc mắc bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các bác sỹ.

Nguồn: http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/lua-chon-sua-cho-be-yeu-n62-2599

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Tác dụng của nước ép trái cây đối với sức khỏe của bé

Thật là sảng khoái khi uống một ly nước trái cây mát lạnh vào những ngày hè nóng bức! và rau và trái cây thường không phải là món ăn ưa thích của các bé, nhưng nếu chế biến thành món nước uống thì hầu như bé nào cũng thích.  Tuy nhiên một số phụ huynh quá “thần tượng” món nước trái cây vì cho rằng nó giúp tăng cường sức đề kháng mà ít quan  tâm đến việc dùng nó như thế nào để tốt cho sức khỏe của bé nên đôi khi “lợi bất cập hại”.


Trước hết chúng ta cần biết giá trị dinh dưỡng của các loại nước trái cây.

Nước ép trái cây:

Một sô loại trái cây  và rau thích hợp để chế biến loại  “nước ép”. Trái cây (hoặc rau)  sẽ được ép và chỉ lấy phần nước, bỏ phần “thịt”  rồi thêm đường vào. Một số loại nước ép thường gặp: nước cam vắt, nước ép táo, nước ép cà rốt, nước ép bưởi, nước chanh, nước sâm...

Do chỉ lấy phần nước nên giá trị dinh dưỡng của loại thức uống này không cao: năng lượng chủ yếu do lượng đường thêm vào, không còn chất xơ, chất đạm, chủ yếu làvitamin C và một ít chất khoáng.

Sinh tố:

Các loại trái cây có phần “thịt” mềm thích hợp với món sinh tố. Trái cây gọt vỏ, bỏ hạt cho vào máy xay sinh tố, xay cùng với đường và sữa đặc có đường như sinh tố bơ, sinh tố đu đủ, sinh tố mãng cầu, sinh tố cà chua…

Vì được chế biến từ phần “thịt” của trái cây và có thêm sữa  nên sinh tố có giá trị dinh dưỡng cao hơn nước ép:  số lượng các loại vitamin và  muối khoáng nhiều hơn và vẫn giữ được lượng chất xơ, chất đạm, chất béo… có trong trái cây.

Sau đây là giá trị dinh dưỡng của một số loại nước trái cây bán trên thị trường:



Với giá trị dinh dưỡng như trên, nước trái cây có lợi gì cho sức khỏe của bé?

- Nước ép trái cây hay sinh tố đều cung cấp các vitamin và muối khoáng, đặc biệt là vitamin C, giúp bé  tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

- Sinh tố có giá tri dinh dưỡng cao hơn vì cung cấp một lượng vitamin và muối khoáng hơn nhiều lần so với nước ép và một lượng đáng kể các chất đạm, chất béo, chất xơ…  Đối với các bé không thích ăn rau và trái cây thì đây là món nước uống cần có trong thực đơn của bé

Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý:

- Các loại nước trái cây cung cấp nhiều loại đường: đường có sẵn trong trái cây (Fructose, glucose..), đường cát thêm vào (Sucrose). Chất đường có khả năng ức chế tiết dịch vị làm cho bé chán ăn sẽ biếng ăn hoặc ăn ít trong bữa ăn chính, vì vậy chỉ cho bé uống sau khi đã ăn xong bữa ăn chính.

- Tương tự như các loại nước ngọt, nước yến.., năng lượng của các loại nước ép trái cây chủ yếu là từ đường (Các loại nước ép bán trên thị trường có lượng đường rất cao: 30g-50g đường trong 200ml). Vì vậy, không thể dùng nước ép trái cây thay cho sữa, bánh flan, yaourt, chè đậu…  để làm bữa ăn phụ cho các bé từ 2-5 tuổi được, nó chỉ là loại nước giải khát hỗ trợ thêm nguồn vitamin cho cơ thể mà thôi.

- Sinh tố tuy có giá trị dinh dưỡng cao hơn nước ép trái cây,  nhưng tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng không cân đối: Chất bột đường nhiều, ít chất đạm và chất béo. Nếu muốn làm bữa ăn phụ cho bé, bạn cần giảm lượng đường cho vào sinh tố và ăn kèm thêm các thực phẩm giàu chất đạm. Ví dụ một bữa ăn phụ của bé:

.Một ly sinh tố = 100g + 10g đường + 20g sữa đặc. Và

.Trứng cút: 3q  (hoặc 1 viên phô mai.)

Không có loại thức ăn nào là hoàn hảo cả, chỉ là chúng ta biết cách chế biến và dùng nó như thế nào để tốt nhất cho sức khỏe của bé mà thôi!

Cachchuabenh.net theo PTK Khoa Dinh Dưỡng – BVNĐ1

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo cho sức khỏe của bé. Hãy gọi điện cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Cách phòng tránh thừa cân béo phì ở trẻ nhỏ

Trẻ béo phì ngoài thân hình nặng nề còn có nguy cơ mắc nhiều bệnh như rối loại lipit máu, tăng huyết áp, đái tháo đường, sỏi mật, xương khớp và cả ung thư.

Có nhiều yếu tố dẫn đến thừa cân, béo phì. Trong đó, phổ biến nhất là tình trạng năng lượng khẩu phần vượt quá nhu cầu, nhất là năng lượng do chất béo và bột, đường cung cấp. Trẻ được nuôi bằng sữa bò có nguy cơ thừa cân - béo phì cao hơn trẻ bú mẹ, vì thức ăn nhân tạo giàu protein và muối, làm tăng áp lực thẩm thấu, gây cảm giác khát, kích thích trẻ ăn nhiều hơn.



Ngủ ít cũng gây béo vì làm giảm tiêu mỡ (quá trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ). Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh mối liên quan giữa thời gian ngủ ngắn với chứng béo phì.

Tuy chưa chứng minh được đầy đủ vai trò của di truyền đối với chứng thừa cân, béo phì nhưng thực tế cho thấy, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những đứa trẻ có cha hoặc mẹ nặng cân, đặc biệt là khi cả cha mẹ đều béo.

Giảm hoạt động thể lực cũng là yếu tố nguy cơ cao của thừa cân, béo phì. Hiện có nhiều trẻ không tham gia thể dục thể thao, ít đi bộ, đi xe đạp... mà dành nhiều thời gian cho hoạt động tĩnh tại như xem vô tuyến, chơi điện tử. Theo một số nghiên cứu, trong khi xem vô tuyến, sự trao đổi chất giảm đáng kể.

Cân nặng quá cao lúc đẻ cũng là yếu tố nguy cơ dẫn đến béo phì. Sự mất cân bằng trong chế độ ăn của mẹ khi mang thai sẽ tạo nên tình trạng dư thừa mỡ ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trẻ nhẹ cân sẽ hoàn toàn thoát khỏi nỗi lo này. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, trẻ 3-9 tuổi bị suy dinh dưỡng, thấp còi sẽ có nguy cơ thừa cân, béo phì cao gấp 2-8 lần so với trẻ không bị thấp còi. Nguyên nhân có thể là trẻ suy dinh dưỡng mạn tính có khối nạc thấp, chuyển hóa cơ bản và hoạt động thể lực giảm. Khi cung được cấp đủ năng lượng, trẻ sẽ tích luỹ mỡ rất nhanh.

Chứng thừa cân, béo phì ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ khi trưởng thành. Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởng sớm. Trước dậy thì, chúng thường cao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn so với bạn bè. Ngoài ra, chứng béo phì cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật (tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, sỏi mật, viêm khớp...) và tử vong.

Để dự phòng thừa cân và bép phì, cần chăm sóc tốt cho trẻ từ trong bào thai để tránh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh.Cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chỉ cai sữa sau 2 năm. Nếu phải nuôi bằng sữa bột, không nên sử dụng thêm đường hay tinh bột. Khi trẻ ăn dặm, thức ăn phải được bổ sung vi chất dinh dưỡng cần thiết để giúp tăng trưởng tối đa.

Đối với trẻ lớn và trẻ vị thành niên, cần tăng cường hoạt động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp theo từng lứa tuổi (như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội...). Sinh hoạt điều độ, hạn chế xem vô tuyến, chơi điện tử hoặc thức quá khuya. Về ăn uống, cần đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng để trẻ phát triển bình thường; khuyến khích ăn rau và hoa quả. Hạn chế sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng và đồ uống có đường.

Điều quan trọng là theo dõi tăng trưởng của trẻ ở mọi lứa tuổi qua chỉ số cân nặng, chiều cao. Như vậy, cha mẹ sẽ phát hiện sớm suy dinh dưỡng hoặc thừa cân, béo phì để xử trí kịp thời.

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về vấn đề thừa cân béo phì ở trẻ em. Hãy gọi điện cho tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.


Theo: Cachchuabenh.net

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Tổng Đài Tư Vấn Sức Khỏe 1900.8909