Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh truyền nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh truyền nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Zona thần kinh không thể xem thường

Thường thì bệnh zona có thể điều trị tại nhà, chỉ sau 7 – 10 ngày là bệnh có dấu hiệu lui và tiến tới khỏi, không phải đến bệnh viện điều trị. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, có thể phải cần tới nhân viên y tế can thiệp như: Bệnh zona thần kinh gần mắt và tai thì phải đi khám. 


Bệnh zona (zôna hay zôna thần kinh) là dạng tái hoạt của virus varicella zoster, tức bệnh trái rạ. Thông thường bệnh nhân nhiễm bệnh trái rạ khi còn nhỏ đã lành bệnh, nhưng virus chưa bị diệt hết mà ẩn vào trong tế bào thần kinh. Sau một thời gian dài, có khi hàng mấy chục năm, virus sẽ tái phát thành bệnh zona. Virus sẽ lan theo dây thần kinh rồi bộc phát ở trên da, tương ứng với khu vực của dây thần kinh, khiến da phát ban, đau đớn.

Triệu chứng

Ban đầu các chỗ phát bệnh thường đỏ sau đó chuyển thành những mảng mụn nước với cảm giác ngứa, nóng rát. Khoảng hai đến bốn tuần sau thì lành da. Bệnh zona có thể xảy ra bất cứ nơi nào trên cơ thể

Các triệu chứng đầu tiên của bệnh zona xuất hiện 1-5 ngày trước khi phát ban. Ban đầu bệnh nhân có thể bị ngứa, ngứa râm ran, đau ở chỗ phát bệnh, về sau bệnh phát triển người bệnh cảm thấy sốt, ớn lạnh, đau đầu, khó chịu ở dạ dày.

Nguyên nhân

Siêu vi khuẩn varicella zoster là thủ phạm gây nên bệnh thủy đậu và zona. Đầu tiên, cơ thể người tiếp xúc với các virus, nó lan rộng gây loét, ngứa gọi là bệnh thủy đậu. Sau đó nó đi vào trong các tế bào thần kinh, xuất hiện trở lại sau một vài năm thậm chí hàng chục năm sau, gây ra bệnh zona.

Bệnh zona rất dễ chẩn đoán. Chỉ cần dựa vào những triệu chứng là có thể phát hiện ra bệnh. Thông thường, những mụn nước thường đóng vảy trong khoảng từ 7-10 ngày, và hoàn toàn biến mất trong khoảng từ 2-4 tuần. Ở những người khỏe mạnh, các mụn thường không để lại sẹo, đau đớn và ngứa sẽ biến mất sau vài tuần hoặc vài tháng. Nhưng những người có hệ miễn dịch suy yếu, các mụn nước sẽ phát triển khó lành. 

Ở một số người lớn tuổi, bệnh zona có thể gây đau đớn kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau khi bệnh đã được chữa lành. Những đau đớn này do thần kinh bị tổn thương, được gọi là đau dây thần kinh sau zona. Có người cảm thấy ngứa khủng khiếp ở khu vực từng bị phát ban. Trong trường hợp nặng, đau hoặc ngứa có thể gây ra mất ngủ, giảm cân hoặc trầm cảm.

Ngoài ra, nếu zona xuất hiện xung quanh mắt hay trán, nó có thể gây nhiễm trùng mắt thậm chí gây mù. Nếu zona tấn công vào tai, thính giác có thể bị kém. Trong trường hợp hiếm hoi, zona có thể tấn công vào não hoặc tủy sống. Có thể ngăn ngừa các biến chứng bằng cách điều trị bệnh zona càng sớm càng tốt.

Những yếu tố nguy cơ

Bất cứ ai từng bị thủy đậu đều có nguy cơ bị bệnh zona, nhưng nguy cơ tăng theo tuổi. Người trên 60 tuổi có nguy cơ bị bệnh zona cao hơn trẻ em dưới 10 tuổi gấp 10 lần. Ngoài ra, có một số yếu tố nguy cơ khác bao gồm:

- Một số loại thuốc ung thư

- Thuốc steroid

- Căng thẳng lâu dài hoặc chấn thương

- Một hệ thống miễn dịch yếu từ các bệnh như ung thư hoặc HIV

Điều trị

Thuốc kháng virus

Trong khi không có cách chữa bệnh zona, thuốc kháng virus có thể làm giảm sự tấn công của chúng. Điều trị kịp thời có thể làm cho quá trình phát triển của bệnh ngắn hơn và nhẹ hơn. Không những thế còn giảm một nửa nguy cơ mắc chứng đau thần kinh sau zona. Các bác sĩ khuyên bạn nên bắt đầu sử dụng thuốc kháng virus theo toa, khi có dấu hiệu đầu tiên của một phát ban bệnh zona. 

Thuốc hỗ trợ

Thuốc giảm đau không cần kê toa và các loại kem chống ngứa như calamine, có thể làm giảm đau và ngứa zona. Nếu cơn đau nặng hoặc phát ban tập trung gần mắt hoặc tai, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay lập tức. Thuốc bổ sung, chẳng hạn như corticosteroid, có thể được quy định để giảm viêm.

Chăm sóc tại nhà

Để giúp các mụn nước nhanh khô, hãy đặt một khăn ướt lên chỗ phát ban, tập thể dục nhẹ nhàng hoặc tham gia một hoạt động yêu thích để làm cho bạn quên đi sự khó chịu của bệnh zona.

TH

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về zona, nếu có những thắc mắc thêm về bệnh bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Nguồn cachchuabenh.net

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Hiểu biết để phòng tránh nhiễm HIV AIDS

Phụ nữ nhiễm vi rút HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là con nhiễm HIV theo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 30 trẻ bị nhiễm. Vi rút HIV có thể lây sang bé qua nhau thai khi bé còn nằm trong bụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, và một số nhỏ lây qua sữa mẹ khi mẹ cho bé bú.
Thông qua quan sát và nghiên cứu, chúng ta đã biết được đại đa số người nhiễm HIV bị nhiễm qua một trong hai con đường: tình dục và dùng chung bơm kim tiêm. Ngoài ra phụ nữ nhiễm HIV có thể sinh con bị nhiễm, và người bị truyền máu nhiễm vi rút cũng bị lây nhiễm.
1. Tình dục:
1.1. Tại sao HIV lây truyền qua con đường tình dục?
Trong giao hợp thông thường, dương vật của người nam và âm đạo người nữ tiếp xúc với các dịch sinh dục của nhau. Nếu người nam mang HIV thì HIV có thể đi qua lớp niêm mạc âm đạo người nữ (da mỏng ở bên trong che phủ bề mặt âm đạo) vào những mạch máu nhỏ li ti có rất nhiều dưới lớp niêm mạc, khiến người nữ bị nhiễm. Nếu người nữ mang HIV thì HIV có thể truyền sang người nam qua niêm mạc ở lỗ dương vật hoặc qua lớp da bao phủ đầu dương vật ở phía ngoài. Lớp da này mỏng nên trong khi giao hợp dễ bị vết xước rất nhỏ không nhận thấy, tạo điều kiện cho HIV xâm nhập.
1.2. Còn các kiểu tình dục hiếm hơn thì sao?
Khi giao hợp bằng miệng (như dương vật - miệng, hay miệng - âm hộ), khả nǎng lây truyền HIV thấp hơn so với giao hợp thông thường. Nhưng nếu trong miệng có lở xước, hay có chảy máu rǎng thì HIV có khả nǎng lan truyền. Vi rút HIV ở sinh dục có thể xâm nhập vào vết xước ờ miệng người kia. Hoặc HIV trong máu ở vết xước trong miệng có thể xâm nhập cơ thể người kia qua âm đạo hoặc dương vật. Vấn đề là nhiều khi trong miệng có những vết xước rất nhỏ mà ta không biết đến.
Giao hợp dương vật - hậu môn là hình thức giao hợp dễ làm lây HIV nhất. Đó là do hậu môn và trực tràng (ống trong hậu môn) rất dễ sây xước bởi không có chất dịch làm trơn như âm đạo nên tạo điều kiện rất tết cho HIV chuyển từ người này sang người kia.
“Đã quan hệ tình dục với người nhiễm HIV có đồng nghĩa với đã nhiễm không?”. Không. Không phải cứ quan hệ tình dục một lần là nhất thiết nhiễm HIV. Song, khả nǎng đó luôn luôn có. Ân ái với người nhiễm HIV, có người không bị nhiễm ngay, nhưng cũng có người bị nhiễm ngay từ lần đầu tiên. Số lần không an toàn càng cao thì khả nǎng truyền nhiễm càng cao.
1.3. Không quan hê tình dục:
Không quan hệ tình dục là một phương pháp phòng tránh HIV khá hữu hiệu. Hiện nay có nhiều bạn thanh niên có quan điểm chừng nào còn chưa lập gia đình thì còn không quan hệ tình dục, và sẽ chỉ quan hệ tình dục trong hôn nhân thôi. Thực tế người ta vẫn có thể “yêu” mà không cần đến “tình dục”.
Nhưng tại sao lại không nói đây là phương pháp phòng tránh “hoàn toàn hữu hiệu” mà chỉ nói “khá hữu hiệu”? Lý do là chuyện tình dục nhiều khi xảy ra “ngoài ý muốn” hai người. Chúng tôi đã gặp một số bạn có quan điểm khá cứng rắn không quan hệ tình dục nếu chưa cưới, song kết cục vẫn phải cưới chạy thai. “Những chuyện này chẳng ai nói mạnh được”.
Do đó nếu bạn nghĩ mình phòng HIV bằng cách không quan hệ tình dục thì bạn phải thật quyết tâm, phải cảnh giác với chính bản thân mình và... có lẽ hay nhất là dự phòng một phương án khác để phòng thân trong trường hợp tình thế thay đổi. Đó chính là bao cao su.
1.4. Chung thủy từ cả hai phía khi biết chắc cả hai không bị nhiễm HIV
Chung thủy vốn là một đức tính mà người Việt Nam ta hằng coi trọng. Dù không xét đến khía cạnh đạo đức thì cũng có thể thấy rõ chung thủy là một điều mang lại nhiều ích lợi. Ở thời đại hiện nay, chung thủy không những bảo vệ hạnh phúc lứa đôi mà còn có thể bảo vệ sức khỏe con người. Nếu có vợ, chồng hay người yêu, bạn hãy coi trọng hơn nữa việc chung thủy
Chung thuỷ về tình dục góp phần tích cực ngǎn chặn sự lan nhiễm con vi rút HIV. Nhưng ta cũng rất cần phải nhớ: Luôn chắc chắn tránh được HIV thì cần cả hai người chung thủy và biết chắc cả hai không nhiễm HIV.
Nếu chỉ một người chung thủy thì cũng chẳng khác gì đóng kín cửa trước nhưng lại mở cửa sau, kẻ gian vẫn dễ dàng lẻn vào được.
Lẽ dĩ nhiên chỉ nên áp dụng cách chung thủy này với người không có nguy cơ nhiễm HIV khác. Nếu vợ, chồng hay người yêu của bạn có khả nǎng nhiễm thông qua đường dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng thì bạn rõ ràng là bị nguy hiểm đấy.
1.5. Dùng bao cao su
Bao cao su có thể coi là thần hộ vệ nếu ta dùng bao cao su và dùng đúng cách. Nó giúp ta tránh được HIV và bao nhiêu rắc rối khác, trong đó có cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Lý do đơn giản nhất cần phải dùng bao cao su là ta không thể biết người khác có nhiễm HIV hay không, thậm chí người nhiễm HIV rất có thể cũng không biết mình bị nhiễm. Có dùng bao cao su thấu đáo hay không là ở quyết định của mỗi người. Nhưng nếu bạn có quan hệ tình dục thì hãy nhớ một điều vô cùng quan trọng là: Bạn có thể đảm bảo không lây nhiễm HIV bằng cách luôn luôn dùng bao cao su.
Bạn ơi, nếu một người không muốn dùng bao cao su với bạn thì hãy cẩn thận đấy, vì trước khi gặp bạn rất có thể người ấy cũng đã gặp người khác mà không dùng bao cao su. Còn ngược lại thấy người ta muốn dùng bao cao su, bạn đừng nghĩ người ta đã có quan hệ tình dục nhiều hay không tin tưởng bạn. Điều đó chỉ thể hiện là người ta có ý thức bảo vệ bản thân và bảo vệ bạn, tôn trọng bản thân và tôn trọng bạn mà thôi.
2.  Dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng:
Dùng chung bơm kim tiêm mà không tiệt trùng sau mỗi lần sử dụng khiến cho máu người trước còn đọng trên bơm kim đi thẳng vào mạch máu của người sau. Dù không nhìn thấy thì bơm kim vẫn có máu đọng đó. Do đó nếu có vi rút HIV thì nó lây được dễ dàng.
Hàng ngày ta thường nghe hay trông thấy ở ngoài đường các khẩu hiệu như: “Tiêm chích ma tuý gây ra AIDS”. Nói chính xác ra thì chất ma tuý tự nó không gây ra AIDS, mà chỉ có dùng chung dụng cụ tiêm không tiệt trùng mới khiến cho HIV lây nhiễm, gây ra bệnh AIDS. Nguyên nhân khiến cho người tiêm chích ma tuý có nguy cơ nhiễm HIV cao là các điểm tiêm chích thường dùng một bơm kim tiêm cho nhiều người. Có khi anh em bạn bè cũng rủ nhau tiêm chung mà không nghĩ đến có thể có người bị nhiễm. Anh Hà đã chích sáu nǎm nay tâm sự: “Đến tiệm thì chấp nhận hết. Mười người thì cả mười người một cái xi lanh đấy thôi. Mà tiêm thì phải nhanh nhanh vì hây giờ công an họ làm gắt lắm”. Chị Hưng hoạt động xã hội với các anh chị em tiêm chích cho biết: “Lúc lên cơn nghiện người ta vớ được cái bơm nào là chích cái đó”. Thật đáng buồn.
Hiện nay có hiện tượng nhiều bạn thanh niên bắt đầu sử dụng ma tuý. Nhiều bạn nghĩ mình chỉ thử chơi một, hai lần sẽ không nghiện. Nhưng ma tuý rất nguy hiểm, đa số người nghiện lúc bắt đầu đều nghĩ chỉ thử thôi, nhưng rồi bị nghiện ngay. Có bạn cho rằng nếu hút hay hít thì không ngại HIV. Nhưng nhiều người lúc đầu chỉ hút hay hít thôi, lâu ngày nghiện nặng không có tiền để hút hay hít nữa nên phải chuyển sang tiêm chích. Do vậy tối nhất là tránh thật xa các loại ma tuý. Còn nếu đã dính vào ma tuý thì ta nên cố mà bỏ sớm.
Và bạn nên nhớ khi nào dùng đến bơm kim tiêm dù là tiêm thuốc y tế hay tiêm chích ma túy, cũng phải đảm bảo an toàn bơm kim.
Trong các bệnh viện, bơm kim tiêm được tiệt trùng sau mỗi lần sử dụng. Nhưng nếu bạn quá lo lắng thì hãy mua loại bơm kim dùng một lần vút đi hiện bán nhiều ở các hiệu thuốc. Giá rất rẻ, chỉ khoảng 1000 đồng/bộ.
3. Truyền từ mẹ sang con:
Phụ nữ nhiễm vi rút HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là con nhiễm HIV theo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 30 trẻ bị nhiễm. Vi rút HIV có thể lây sang bé qua nhau thai khi bé còn nằm trong bụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, và một số nhỏ lây qua sữa mẹ khi mẹ cho bé bú. Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường không sống được quá ba nǎm, bé sẽ bị bệnh và chết.
Trẻ do mẹ nhiễm HIV sinh ra thường xét nghiệm dương tính, tức là trong cơ thể bé có kháng thể kháng HIV. Nhưng như thế không có nghĩa là bé đã bị nhiễm. ở trong bụng mẹ và khi bú sữa mẹ, bé nhận các chất kháng thể của mẹ để giúp bé chống bênh tật. Có thể bé không bị nhiễm HIV, nhưng cơ thể bé còn lưu nhiều kháng thể mẹ truyền cho, trong đó có cả kháng thể kháng HIV. Do đó xét nghiệm của bé là dương tính mặc dù không nhiễm vi rút. Bé chỉ có kết quả xét nghiệm chính xác vào khoảng 6 - 12 tháng sau khi sinh. Khi đó trong máu của bé không còn các kháng thể của mẹ, mà chỉ có các kháng thể do cơ thể bé tự sinh ra. Nếu kết quả xét nghiệm lúc này là dương tính thì mới xác định bé có nhiễm HIV.
4. Truyền máu nhiễm vi rút:
Truyền máu là con đường lây nhiễm trực tiếp. Trong truyền máu, máu của người khác đi thẳng vào mạch máu của ta, hơn nữa lượng máu này lại lớn. Do đó bất cứ ai bị truyền máu của người nhiễm HIV đều bị lây nhiễm.
Kể từ nǎm 1994 trở đi, theo quy định tất cả các bệnh viện đều phải xét nghiệm HIV máu trước khi truyền, để tránh truyền máu nhiễm vi rút cho bệnh nhân. Do vậy, độ an toàn truyền máu rất cao. Tất nhiên vẫn có một khả nǎng là có người bị nhiễm HIV nhưng còn ở trong thời kỳ “cửa sổ” (khoảng 3 - 6 tháng sau khi nhiễm có thể chưa sinh kháng thể) thì xét nghiệm không phát hiện được là có nhiễm và bệnh viện vẫn chấp nhận máu của người đó. Song khả nǎng này nhỏ.
Cẩn thận thì bạn hãy yêu cầu bệnh viện xét nghiệm lại máu trước khi truyền. Xét nghiệm không chỉ để tìm kháng thể kháng HIV mà còn để loại trừ các bệnh khác như sốt rét, giang mai, viêm gan B...
Nếu vài tháng nữa bạn có kế hoạch phẫu thuật và sẽ cần máu thì có thể yêu cầu bệnh viện trích máu của mình từ bây giờ để dự trữ nếu điều kiện sức khỏe cho phép. Như vậy bạn tránh dùng máu của người khác, không sợ nguy cơ lây HIV.
Hoặc bạn cũng có thể xin máu trước của một người thân bạn biết rõ không nhiễm HIV, để không phải dùng máu của bệnh viện. Làm vậy là rất hay, vì vừa được an toàn, vừa tiết kiệm được máu cho bệnh viện.
Ngoài những đường lây thông thường là tình dục không có bao cao su bảo vệ, chung bơm kim tiêm không tiệt trùng, truyền máu nhiễm HIV và truyền từ mẹ sang con, HIV hầu như không lây nhiễm qua các đường khác.
Trong dịch vụ y tế, các dụng cụ nhìn chung đều được khử trùng, nên không đáng ngại. Song, nếu bạn còn lo thì hãy hỏi bác sĩ dụng cụ đã được tiệt trùng, đã đảm bảo an toàn chưa và yêu cầu tiệt trùng dụng cụ. Đây là quyền lợi của bạn.
Ngoài ra, khi đi cạo râu hoặc sửa móng tay ở hiệu, bạn có thể yêu cầu người làm rửa sạch dụng cụ và cẩn thận hơn nữa là lau bằng cồn.
Nếu có bao giờ xǎm mình, bạn nhất thiết cần yêu cầu tiệt trùng dụng cụ thật cẩn thận trước khi xǎm, vì tiệt trùng không phải chỉ để tránh lây nhiễm HIV mà còn để tránh nhiễm trùng do dụng cụ bẩn.
TH
Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về HIV/ AIDS, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe và tâm lý các bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008908 hoặc 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Cách tốt nhất phòng lây truyền viêm gan B


Bệnh viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virut viêm gan B gây ra. Việt Nam là nước thuộc vùng có tỷ lệ lưu hành bệnh viêm gan B cao.

Cách tốt nhất phòng lây truyền viêm gan B

Bệnh truyền nhiễm

Tỷ lệ lưu hành HBsAg của Việt Nam là 10 - 20%. Một số nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ HBsAg ở phụ nữ có thai >10%. Trẻ sơ sinh có nguy cơ lây nhiễm khi sinh từ 10% - 90% nếu mẹ bị nhiễm viêm gan B. Đây là đường lây nhiễm nguy hiểm nhất. Nếu trẻ sơ sinh bị lây nhiễm virut viêm gan B từ mẹ sẽ có nguy cơ trở thành bệnh mạn tính là 90% và khoảng 25% trong số đó sẽ có nguy cơ bị ung thư gan và xơ gan.

Cho đến nay, chưa có thuốc đặc hiệu điều trị viêm gan B. Do đó, tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh là cách tốt nhất để phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con. Tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh sẽ phòng lây truyền từ mẹ sang con từ 80 - 95%. Nếu tiêm muộn, việc phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con sẽ ít hiệu quả. Do đó, sau khi sinh trẻ cần được tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh.

Vắcxin viêm gan B rất an toàn, đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu sau sinh là chiến lược của Tổ chức Y tế Thế giới trong phòng chống bệnh viêm gan B. Ở nước ta, vắc-xin viêm gan B được triển khai tiêm cho trẻ em trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng từ năm 1997.

Sau khi tiêm vắc-xin viêm gan B có thể gặp các phản ứng thông thường như: đau tại chỗ tiêm, sốt. Những phản ứng nặng sau tiêm vắc-xin viêm gan B thường hiếm gặp và sẽ qua khỏi nếu được phát hiện và xử trí kịp thời. Để đảm bảo an toàn tiêm chủng, các bà mẹ nên tiêm vắc-xin viêm gan B khi trẻ đã bú tốt và đề nghị để con mình được cán bộ y tế thăm khám trước khi tiêm.

Tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh và tiêm đủ mũi vắc-xin viêm gan B là cách phòng bệnh tốt nhất

(Theo sức khỏe đời sống)

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe các bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008908 hoặc 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/tiem-vacxin-viem-gan-b-trong-24-gio-sau-khi-sinh-cach-tot-nhat-phong-lay-truyen-viem-gan-b-tu-me-sang-con-n98-2849

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Triệu chứng của bệnh lậu và cách điều trị


Bệnh lậu (Gonorrhea) là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục do song cầu khuẩn Neisseria gonorrhoeae gây nên. Đây là một loại bệnh truyền nhiễm dễ lây lan và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời. Ở nước ta, trong những năm gần đây, bệnh lậu có xu hướng gia tăng rất nhanh.

Triệu chứng của bệnh lậu và cách điều trị

Bệnh truyền nhiễm

Đặc điểm của vi khuẩn lậu cầu

Vi khuẩn lậu có hình hạt cà phê, xếp thành từng cặp nên còn gọi là song cầu, có chiều dài khoảng 1,6cm, rộng 0,8cm, trên kính hiển vi, vi khuẩn bắt màu Gram âm. Lậu cầu tồn tại rất ngắn ngoài cơ thể người (khoảng 5 phút), nhiệt độ lạnh và khô làm cho vi khuẩn lậu chết nhanh (tuy nhiên người ta có thể nuôi cấy được lậu từ nhà vệ sinh bị nhiễm số lượng lớn trong vòng 24 giờ, nên lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng chung). Ngược lại, lậu cầu sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ thể, vì thế giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu.

Các đường lây truyền của bệnh
Người là ký chủ tự nhiên duy nhất của lậu cầu. Lây truyền chính là do tiếp xúc trực tiếp qua đường sinh dục do giao hợp, lậu cầu có thể lây qua vật dụng dùng chung trong môi trường ẩm như khăn tắm, đồ lót... lậu mắt lây qua tiếp xúc với cơ quan sinh dục của người mẹ khi sinh.
Thời gian ủ bệnh: trung bình 3 - 7 ngày, nhiều nhất là 3 tuần.

Biến chứng thường gặp
Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niệu mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhiễm đến để thực bào, từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, vi khuẩn tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó, gây viêm tiền liệt tuyến, viêm túi tinh, viêm tinh hoàn ở nam giới, viêm ống dẫn trứng, buồng trứng ở nữ giới và là nguyên nhân gây vô sinh.

Nếu mắc bệnh do quan hệ tình dục qua đường miệng, gây đau họng, nuốt đau và sưng đỏ vòm họng, amidan.
Nếu vi khuẩn lan truyền vào mắt do tiếp xúc, mắt có thể bị viêm, đau, sưng đỏ. Trẻ sơ sinh có thể bị lây từ đường sinh dục của mẹ bị nhiễm lậu cầu trong quá trình sinh. Lậu mắt có thể gây mù.
Nhiễm trùng máu: Vi khuẩn lậu có thể theo máu trong hệ tuần hoàn lan tràn và gây nhiễm ở nhiều cơ quan khác trong cơ thể bạn. Sốt, nổi mẩn, đau cứng khớp là các triệu chứng thường gặp. Có thể gây thương tổn van tim, suy tim.

Triệu chứng lâm sàng
Về triệu chứng lâm sàng lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam giới dài gấp 5 lần, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm rộ, còn ở nữ thì âm thầm, dễ bỏ qua, vì thế lậu là nguồn lây nhiễm rất đáng quan tâm. Thời gian nung bệnh trung bình 3 – 5 ngày, nhưng có thể kéo dài 2 – 3 tuần, thời gian nung bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng và thời gian càng dài bệnh nhẹ hơn.

Lậu ở nam

- Giai đoạn cấp tính
Sau thời gian ủ bệnh, bệnh nhân thấy hơi ngứa, nhồn nhột ở đường tiểu, sau vài giờ thì tiết ra chất dịch trong, sau đó đục dần rồi thành mủ, màu vàng hơi trắng. Tiếp theo đó, hai mép miệng sáo đỏ, sưng nề, khi đi tiểu bệnh nhân có cảm giác tiểu nóng rát, tiểu gắt, tiểu buốt, đau như dao cắt, mủ chảy ngày càng nhiều, trường hợp nặng có thể tiểu ra máu.
Toàn thân giai đoạn này bệnh nhân có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, đau mình mẩy.

- Giai đoạn mạn tính
Ở giai đoạn cấp tính, nếu không được điều trị hoặc điều trị không hiệu quả, triệu chứng trên cũng giảm dần, nhưng vi khuẩn vẫn còn và chuyển sang giai đoạn mạn tính, vi khuẩn từ niệu đạo trước, xâm nhập sâu dần đến các tuyến và niệu dạo sau, để tiếp tục sinh sôi và phát triển, các triệu chứng trên sẽ mất dần chỉ còn lại là tiểu ra giọt đục buổi sáng, và tăng lên khi lao động nặng, thức khuya, uống rượu bia…
Lậu ở nữ: Thời gian ủ bệnh thường rất khó xác định.
- Giai đoạn cấp tính
Triệu chứng thường âm thầm, không rõ như nam giới. Theo thống kê có khoảng 97% không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu rát, tiểu buốt, khó chịu.

- Giai đoạn mạn tính
Không có triệu chứng gì đặc biệt, thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng mà thôi.

Lậu ở trẻ sơ sinh

Trẻ bị viêm kết mạc mắt do tiếp xúc với dịch ở âm đạo của mẹ bị nhiễm lậu cầu lúc sinh, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 21, mắt bé bị sưng phù, đỏ và có mủ vàng. Tình trạng này có thể phòng, bằng cách nhỏ mắt bằng Nitrat bạc lúc sinh. Ngoài ra, lậu ở đường sinh dục nam và nữ còn gây bệnh ở các cơ quan khác như: lậu ở tim, khớp, cổ họng, amidan, hậu môn, trực tràng…

Phương pháp điều trị hiện nay

Khi phát hiện có các dấu hiệu mắc bệnh, hoặc sau khi quan hệ tình dục không lành mạnh với người có dấu hiệu mắc bệnh lậu bạn cần kịp thời đi khám để phát hiện bệnh và tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ.

Nguyên tắc điều trị
- Lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần, do đó lan nhanh, vì vậy cần điều trị sớm.
- Điều trị đúng thuốc – đủ liều.
- Điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý.
- Điều trị cho nữ bao giờ cũng dùng thuốc và thời gian gấp đôi liều nam giới.
- Chỉ được kết luận là khỏi bệnh, khi cấy hai lần liên tiếp âm tính, hoặc không còn tiết dịch niệu đạo với nghiệm pháp kích thích, (cho bệnh nhân lao động nặng, thức khuya, uống rượu bia. Sáng hôm sau, lấy dịch xét nghiệm lúc bệnh nhân chưa đi tiểu).

Các loại thuốc điều trị
Thông thường, các bác sĩ sẽ dùng các loại kháng sinh để điều trị bệnh này. Tuy nhiên, bởi vì càng ngày càng có nhiều chủng vi khuẩn kháng thuốc nên nhất thiết bạn phải thực hiện đúng và đầy đủ tiến trình điều trị hoàn chỉnh. Các thuốc giảm đau chỉ điều trị triệu chứng đau buốt, rát khi đi tiểu mà không thể tiêu diệt trực tiếp vi khuẩn gây bệnh.
Theo dõi điều trị
Nếu điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm hơn sau 48 - 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.

Cách phòng ngừa bệnh
• Bạn nên dùng bao cao su khi quan hệ tình dục, đặc biệt là với người bạn tình mới. Bệnh lậu rất dễ lây nhiễm ngay cả ở những người không có triệu chứng.

• Nếu bạn đã bị nhiễm lậu, hãy tránh quan hệ tình dục trước khi được điều trị bằng kháng sinh và quá trình điều trị chấm dứt. Bạn vẫn có thể tiếp tục bị nhiễm lậu trở lại, vì vi khuẩn lậu không gây được đáp ứng miễn dịch vĩnh viễn.
• Cần thăm khám ở bác sĩ thường xuyên sau khi được điều trị bằng kháng sinh để đảm bảo rằng vi khuẩn lậu đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
• Quan hệ tình dục lành mạnh, thuỷ chung một vợ một chồng là cách tốt nhất để vợ chồng bạn tránh được nguy cơ mắc lậu.
• Không mặc chung đồ lót, dung chung khăn tắm với người khác.

TH

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về bệnh lậu, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe các bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/dung-chu-quan-voi-benh-lau-n98-492

Giải đáp thắc mắc khi mẹ mang thai bị viên gan B?


Rất nhiều bà mẹ mang thai xét nghiệm HbsAg (+) đang lo lắng liệu có truyền sang cho thai nhi không? Làm thế nào để hạn chế lây truyền? Sau khi sinh có cho con bú được không? Điều trị viêm gan B thế nào?Sau đây là nhưng thắc mắc thường gặp.

Giải đáp thắc mắc khi mẹ mang thai bị viên gan B?

Bệnh truyền nhiễm

Câu 1: Chào bác sĩ!

Hai vợ chồng em đi xét nghiệm đều có kết quả: HBsAg (+); HBeAg (-); SGOT: 42U/L; SGPT:37U/L. Kết quả như vậy là đã bị viêm gan B phải chưa ạ? Hiện tại, chúng em đang có ý định sinh em bé nhưng liệu có ảnh hưởng gì đến em bé không ạ?

Trả lời:
Bạn thân mến!

Bạn tham khảo thêm về các xét nghiệm viêm gan B nhé:

- Nếu HBsAg (-) thì bệnh nhân không mắc bệnh viêm gan B, Anti HBs là một kháng thể chống virus viêm gan B, khi HBsAg (-) và Anti HBs (-) thì bạn cần được tiêm ngừa viêm gan B, trường hợp Anti HBs (+) bạn không phải tiêm ngừa do đã có kháng thể chống virus viêm gan B.

- Nếu chỉ dựa vào xét nghiệm HBsAg (+) chỉ nói lên người đó có nhiễm siêu vi B thôi, chứ chưa chắc chắn người đó mắc bệnh viêm gan B, đây là một xét nghiệm tầm soát.

* Khi HBsAg (+) cần làm thêm một số xét nghiệm như: HBeAg, men gan, xét nghiệm sinh học phân tử HBV DNA sẽ có 2 trường hợp xảy ra:

+ HBsAg (+) , HBeAg (-), men gan không tăng: đây là trường hợp người lành mang trùng, bạn không phải điều trị, bạn sống hòa bình với virus viêm gan B và kiểm tra men gan mỗi 3- 6 tháng.

+ HBsAg (+) và men gan tăng, bạn cần được theo dõi, nếu men gan tăng liên tục trong 6 tháng mới kết luận bạn bị viêm gan B mạn tính. Trường hợp này bạn cần điều trị, cẩn thận hơn bạn sẽ được làm thêm xét nghiệm HBeAg và xét nghiệm sinh học phân tử HBV DNA(định lượng virus).

Với những xét nghiệm phân tích ở trên và dựa vào xét nghiệm, có thể nói bạn đang nhiễm siêu vi B, bạn cần theo dõi và làm xét nghiệm mỗi 6 tháng ở những cơ sở y tế có uy tín, để đảm bảo tính chính xác của xét nghiệm.

Người mẹ có thể nhiễm siêu vi B trước khi mang thai hoặc trong khi mang thai nhưng phần lớn là nhiễm từ trước. Siêu vi không gây ảnh hưởng xấu cho tiến trình mang thai cũng như bào thai, thai vẫn phát triển tốt và không có nguy cơ dị dạng. Quan trọng là nguy cơ truyền bệnh cho thai nhi, nếu trẻ không được bảo vệ ngay sau khi sinh thì 50% số trẻ này sẽ bị viêm gan B mạn tính và có nguy cơ bị xơ gan lúc trưởng thành. Tỷ lệ bị viêm gan cấp ngay sau sinh là 5-7% mà không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng.


Câu 2: Bác sỹ cho tôi hỏi. Tôi bị viêm gan B và đang điều trị được 5 tháng rồi. Tuy nhiên, bây giờ tôi lại vừa biết mình có thai. Tôi đang lo lắng không biết có ảnh hưởng gì đến thai nhi không? Liệu con tôi có bị viêm gan B như tôi không?

Câu trả lời:
Chào bạn!

Thông thường khi phụ nữ bị viêm gan B thì có tới 70-90% nguy cơ trẻ sẽ bị nhiễm virus viêm gan B trong cuộc sinh hay sau đó. Trường hợp của bạn có thai khi đang điều trị viêm gan B thì nguy cơ con bạn bị nhiễm là rất cao.

Thai nhi có thể bị lây nhiễm khi còn trong tử cung, nhưng sự lây nhiễm thường xảy ra quanh thời điểm sinh, khi trẻ nuốt phải dịch có nhiễm virus của người mẹ, hoặc máu của mẹ đi vào máu của con. Hầu hết trẻ bị nhiễm virus khi sinh và trở thành người mang virus viêm gan B nếu không được điều trị ngay.

Tuy nhiên, bạn cũng không cần phải quá lo lắng, nhiều bé sau khi sinh được điều trị ngay để không trở thành người mang virus mạn tính và phát triển thành bệnh sau này.

Bạn không nói rõ đang điều trị thuốc gì nhưng trên thị trường đang có hai loại thuốc: thuốc ức chế nuclease và interferon. Đối với phụ nữ mang thai chỉ có Lamivudin được chỉ định điều trị trong 3 tháng cuối vì tính an toàn của nó đã được kiểm chứng, còn tất cả các loại thuốc khác đều chống chỉ định đối với phụ nữ có thai. Bạn nên tham khảo kỹ ý kiến của bác sỹ điều trị viêm gan và bác sỹ sản khoa để có quyết định tốt nhất

Chúc bạn có sức khỏe thật tốt!

Câu 3. Chào bác sỹ! Cho tôi hỏi rằng tỷ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con là bao nhiêu. Tôi đang mang thai tháng thứ 8 thì phát hiện viêm gan, xét nghiệm HBsAg (+), HBeAg (+), liệu con tôi có bị lây nhiễm không và nếu bị nhiễm thì có những nguy cơ gì? Phải làm sao để phòng bệnh? Xin cảm ơn bác sỹ

Trả lời:
Khả năng truyền bệnh viêm gan siêu vi B theo đường mẹ-con trong thời kỳ mang thai:

Thời điểm mẹ mắc bệnh->Tỷ lệ truyền bệnh từ mẹ sang con

3 tháng đầu thai kỳ->1%

3 tháng giữa thai kỳ->10%

3 tháng cuối thai kỳ->67%

Mức độ nhân đôi của siêu vi được xác định bằng xét nghiệm HBeAg huyết thanh, đây là một bằng chứng nguy hiểm của tính lây nhiễm

Phương diện huyết thanh->Tỷ lệ truyền bệnh từ mẹ sang con

HBs Ag (+)/ HBe Ag (+)->90%

HBs Ag (+)/ HBe Ag (-)->10-25%

Hơn 95% trẻ sơ sinh bị nhiễm siêu vi B ở giai đoạn chu sinh sẽ tiến triển sang mạn tính do có liên quan đến tình trạng chưa trưởng thành ở hệ thống miễn dịch của trẻ, ngược lại ở tuổi trưởng thành chỉ có 5-7% chuyển sang mạn tính.

Trường hợp của bạn khả năng lây nhiễm sang con là rất cao trên 90%, mặt khác đang có bằng chứng nhân lên của virus bạn nên trao đổi với bác sỹ chuyên khoa để làm thêm xét nghiệm men gan và định lượng HBV-DNA để có hướng điều trị cụ thể, có thể dùng lamivudin trong thời điểm này rồi khi bé sinh ra có thể  tiêm cho trẻ huyết thanh đặc hiệu chống siêu vi B (Ig- AntiB) 100 đơn vị ngay trong phòng đẻ, sau đó tiêm vaccin chống viêm gan siêu vi B ở những vị trí khác trên cơ thể trẻ sơ sinh theo công thức 3 mũi (ngay sau đẻ, tháng thứ 2 và tháng thứ 3).

TH

Chú ý: Nếu các bạn có những thắc mắc về viêm gan B và thai nghén hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn sức khỏe 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự giúp đỡ của các chuyên gia. Chúc các bạn sức khỏe!

BS. Đoàn Hằng

http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/vai-thac-mac-khi-nguoi-me-mang-thai-bi-viem-gan-b-n98-2343

Các giai đoạn lâm sàng của HIV


Nhiễm HIV ở người lớn được chẩn đoán trên cơ sở xét nghiệm kháng thể HIV. Một người được xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh dương tính cả ba lần xét nghiệm kháng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và ph ương pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau (theo quy định của Bộ Y tế).

Các giai đoạn lâm sàng của HIV

Bệnh truyền nhiễm

Phân giai đoạn nhiễm HIV

Phân giai đoạn lâm sàng:

Nhiễm HIV ở người lớn được phân thành 4 giai đoạn lâm sàng, tùy thuộc vào các triệu chứng bệnh liên quan đến HIV ở người nhiễm (Bảng 1).

Phân giai đoạn Lâm sàng HIV/AIDS ở người lớn

Giai đoạn lâm sàng 1: Không triệu chứng

- Không có triệu chứng

- Hạch to toàn thân dai dẳng

Giai đoạn lâm sàng 2: Triệu chứng nhẹ

- Sút cân mức độ vừa không rõ nguyên nhân (< 10% trọng lượng cơ thể)

- Nhiễm trùng hô hấp tái diễn (viêm xoang, viêm amidan, viên tai giữa, viêm hầu họng)

- Zona (Herpes zoster)

- Viêm khoé miệng

- Loét miệng tái diễn

- Phát ban dát sẩn, ngứa.

- Viêm da bã nhờn

- Nhiễm nấm móng

Giai đoạn lâm sàng 3: Triệu chứng tiến triển

- Sút cân nặng không rõ nguyên nhân (> 10% trọng lượng cơ thể)

- Tiêu chảy không rõ nguyên nhân kéo dài hơn 1 tháng.

- Sốt không rõ nguyên nhân từng đợt hoặc liên tục kéo dài hơn 1 tháng.

- Nhiễm nấm Candida miệng tái diễn.

- Bạch sản dạng lông ở miệng.

- Lao phổi.

- Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm mủ màng phổi, viêm đa cơ mủ, nhiễm trùng xương khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết).

- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng.

- Thiếu máu (Hb< 80g/L), giảm bạch cầu trung tính (< 0.5x109/L), và/hoặc giảm tiểu cầu mạn tính (< 50x109/L) không rõ nguyên nhân.

Các giai đoạn lâm sàng của HIV

Cách chữa bệnh

Giai đoạn lâm sàng 4: Triệu chứng nặng

- Hội chứng suy mòn do HIV (sút cân >10% trọng lượng cơ thể, kèm theo sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng không rõ nguyên nhân).

- Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (PCP).

- Nhiễm Herpes simplex mạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục, quanh hậu môn, kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng).

- Nhiễm Candida thực quản (hoặc nhiễm candida ở khí quản, phế quản hoặc phổi).

- Lao ngoài phổi.

- Sarcoma Kaposi.

- Bệnh do Cytomegalovirus (CMV) ở võng mạc hoặc ở các cơ quan khác.

- Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.

- Bệnh lý não do HIV.

- Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi bao gồm viêm màng não.

- Bệnh do Mycobacteria avium complex (MAC) lan toả.

- Bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển (Progessive multifocal leukoencephalopathy -PML).

- Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia.

- Tiêu chảy mạn tính do Isospora

- Bệnh do nấm lan toả (bệnh nấm Penicillium, bệnh nấm Histoplasma ngoài phổi,).

- Nhiễm trùng huyết tái diễn (bao gồm nhiễm Sallmonella không phải thương hàn).

- U lympho ở não hoặc u lympho non-Hodgkin tế bào B.

- Ung thư cổ tử cung xâm nhập (ung thư biểu mô).

- Bệnh do Leishmania lan toả không điển hình.

- Bệnh lý thận do HIV.

- Viêm cơ tim do HIV.

Phân giai đoạn miễn dịch:
Tình trạng miễn dịch của người lớn nhiễm HIV được đánh giá thông qua chỉ số tế bào CD4.

Phân giai đoạn miễn dịch nhiễm HIV/AIDS ở người lớn

Mức độ  và Số tế bào CD4/mm3
Bình thường hoặc suy giảm không đáng kể:        > 500
Suy giảm nhẹ:                                                     350 - 499
Suy giảm tiến triển:                                            200 - 349
Suy giảm nặng:                                                    < 200

Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm HIV tiến triển (bao gồm AIDS):
- Có bệnh lý thuộc giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 (chẩn đoán lâm sàng hoặc xác định) và/hoặc

- Số lượng CD4 < 350 TB/mm3

AIDS được xác định khi người nhiễm HIV có bất kỳ bệnh lý nào thuộc giai đoạn
4 (chẩn đoán lâm sàng hoặc xác định), hoặc số lượng CD4 < 200 TB/mm3.

TH

Chú ý: trên đây là một số thông tin tham khảo về HIV, hãy gội đến tổng đài tư vấn sức khỏe, tâm lý 19008909 hoặc 19008908 để được tư vấn cụ thể

http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/cac-giai-doan-lam-sang-cua-hiv-n98-2407

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Cách phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con


Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể có nguy cơ nhiễm HIV, nếu sử dụng chung bơm kim tiêm với người khác hoặc quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su dù chỉ một lần. Cho đến nay y học vẫn chưa tìm ra vác xin để phòng lây nhiễm HIV, hoặc thuốc để chữa trị AIDS. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta có thể chủ động phòng lây nhiễm HIV bằng cách tự điều chỉnh hành vi có nguy cơ nhiễm HIV trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Cách phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con

Bệnh truyền nhiễm

Quá trình tiến triển của nhiễm HIV ở phụ nữ cũng tương tự như ở nam giới. Tuy nhiên, nhiễm HIV ở phụ nữ còn có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt và sức khoẻ sinh sản. Bà mẹ mang thai nhiễm HIV có thể truyền sang cho con.

Trong một số trường hợp, người mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền vi rút cho con trong quá trình mang thai, trong khi sinh hoạc khi cho con bú. Tuy nhiên, không phải tất cả những đứa trẻ dó các bà mẹ nhiễm HIV sinh ra đều bị nhiễm HIV. Tỷ  lệ lây nhiễm từ mẹ sang con nếu không được điều trị dự phòng là khoảng 30%. Các yếu tố dưới đây làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho con:

-         Mẹ vỡ ối sớm.

-         Mẹ bị nhiễm trùng lây qua đường tình dục và chưa điều trị khỏi.

-         Mẹ sử dụng rượu và ma tuý trong thời gian mang thai.

-         Cho con bú mẹ.

-         Hiện nay tại các bệnh viện phụ sản lớn đã có thuốc điều trị dự phòng miễn phí cho các trường hợp bà mẹ bị nhiễm HIV.

Phụ nữ trong thời kỳ mang thai bị nhiễm HIV nên:

+ Đến các cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị dự phòng miễn phí, nhằm làm giảm nguy cơ lan truyền HIV cho con.

+ Không cho con bú sữa mẹ sau khi sinh mà cho ăn bằng sữa thay thế và các thức ăn phù hợp khác. Nên hỏi ý kiến cán bộ y tế để biết loại thức ăn phù hợp cho từng độ tuổi của trẻ.

Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho người bạn đời:

Trên thực tế, có một số trượng hợp một trong hai người không bị nhiễm HIV. Trong trường hợp này, điều đầu tiên phải tính đến là tránh lây nhiễm HIV cho người kia. Hiện nay, ở Việt Nam đã có kỹ thuật để thực hiện được điều này.

-         Trường hợp người phụ nữ bị nhiễm HIV, nhưng người đàn ông không bị nhiễm. Để tránh lây nhiễm HIV, các bạn có thể cân nhắc khả năng thực hiện thu tinh nhân tạo tại cơ sở y tế.

-         Trường hợp người đàn ông bị nhiễm HIV, nhưng người phụ nữ không bị nhiễm. Hiện nay ở một số bệnh viện lớn ở Việt Nam đã thực hiện được kỹ thuật lọc rửa tinh trùng và thụ thai trong ống nghiệm. Tuy nhiên, kỹ thuật này rất đắt tiền và phức tạp.

Giảm nguy cơ lây truyền HIV cho con:

Người mẹ mang thại bị nhiễm HIV nếu được điều trị dự phòng bằng thuốc chống HIV ngày từ tuần thứ 28, thì khả năng lây nhiễm từ mẹ sang con giảm xuống còn từ 2-8%.

Tránh có  thai

Khi đã nhiễm HIV, bạn luôn luôn phải sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục. Bao cao su không những có tác dụng tránh thai mà còn tránh lây nhiễm HIV cho người bạn tình. Nếu người bạn tình cũng bị nhiễm HIV, thì bao cao su sẽ giúp cả hai người tránh bị nhiễm thêm các dòng vi rút khác, đồng thời tránh được các bệnh lây qua đường tình dục như lậu, giang mai, viêm gan vi rút, trùng roi,…

TH

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về phòng tránh lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe hoặc tâm lý các bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/phong-lay-nhiem-hiv-tu-me-sang-con-n98-2817

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Tình dục đồng giới và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS


Tình dục đồng giới (homosexual) là sự say mê tình dục với người cùng giới. Biểu hiện là những người cùng giới “yêu” nhau, nam yêu nam, nữ yêu nữ, họ chăm sóc, chiều chuộng, sống với nhau như vợ chồng, họ cũng ghen tuông, hờn giận, nhớ nhung, xa nhau thấy nhớ không chịu được, trong khi đó lại hoàn toàn thờ ơ với người khác giới.

Tình dục đồng giới và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

Bệnh truyền nhiễm

Ở nước ta, tình dục đồng giới bị coi là trái với quy luật tự nhiên và chưa được xã hội chấp nhận. Tuy nhiên, ở các nước phương Tây (Mỹ, Canada, Italia, Đan Mạch, Na Uy…), đồng tính luyến ái được xã hội chấp nhận, nên họ thành lập các “Hội đồng tính luyến ái”, họ thường xuyên gặp gỡ, họ sinh hoạt với nhau tại câu lạc bộ ban đêm. Ở nước ta, trong những năm gần đây đã xuất hiện một số trường hợp đồng tính luyến ái, cả nam và nữ họ sinh hoạt với nhau, thậm chí có trường hợp sống với nhau như vợ chồng. Một số trường hợp tình dục đồng giới nam xảy ra trong nhà tù, trong trại tập trung…

Vậy nguyên nhân gì dẫn đến hiện tượng trái tự nhiên này?

Từ trước đến nay, người ta vẫn cho rằng những người đồng tính luyến ái xuất hiện là do nguyên nhân xã hội, họ đã quá nhàm chán với lối sống tình dục khác giới, họ muốn thay đổi tư duy và thích “sinh hoạt” theo mốt mới. Nhưng gần đây, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu y học bang Xan Diego (Mỹ) cho thấy, căn bệnh này có nguồn gốc sinh học.

Qua theo dõi 141 bệnh nhân có biểu hiện lệch lạc về tình dục (sinh hoạt tình dục đồng giới), các nhà khoa học cho thấy rằng, trong não những người mắc bệnh này có một bó sợi thần kinh đặc biệt điều phối hoạt động tình dục có kích thước chỉ bằng 1/3 so với người bình thường và đó chính là nguyên nhân gây nên hiện tượng tình dục đồng giới. Một số nhà khoa học Mỹ cho rằng, những biểu hiện lệch lạc về tình dục được đặt nền móng khi bào thai còn nằm trong bụng mẹ.

Nhiều loại thuốc khác nhau, các chất độc hại, hút thuốc lá, thuốc phiện, uống rượu, sự căng thẳng thần kinh đều có ảnh hưởng tới bào thai, phá vỡ sự phát triển bình thường của nó. Người ta phát hiện ra rằng, những đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ nghiện ma túy và uống rượu, khi lớn lên có biểu hiện đồng tính luyến ái nhiều hơn so với những đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ bình thường.

Đồng tính luyến ái là hiện tượng khá phổ biến ở các nước phương Tây. Hiện nay ở Mỹ có 2,5 triệu người đồng tính luyến ái, họ thành lập những câu lạc bộ đồng tính luyến ái (Gay club) với những ký hiệu riêng của từng câu lạc bộ (đeo khuyên tai phải, tai trái hoặc 2 khuyên một bên tai…). Ở một số nước khác cho phép những người đồng tính luyến ái sinh hoạt với nhau.

Tình dục đồng giới và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

Tình dục đồng giới và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

Tình dục đồng giới mang lại hậu quả rất nghiêm trọng – đó là căn bệnh thế kỷ AIDS. Năm 1981 những ca AIDS đầu tiên được phát hiện ở 5 thanh niên sinh hoạt tình dục đồng giới tại Los Angeles (Mỹ), điều đó giải thích vì sao lúc đầu người ta gọi AIDS là căn bệnh của những người đồng tính luyến ái.

Những người sinh hoạt tình dục đồng giới nam có nguy cơ bị lây nhiễm AIDS cao hơn so với tình dục đồng giới nữ. Họ sinh hoạt tình dục qua đường hậu môn, làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm HIV từ người bệnh sang người lành. Hậu môn không có dịch nhờn bôi trơn. Hơn nữa, niêm mạc trực tràng có nhiều mao mạch, dễ bị tổn thương, xây xước khi sinh hoạt tình dục qua đường này.

Những vết xước rất nhỏ không thể nhận thấy bằng mắt thường trên bề mặt của niêm mạc hậu môn xảy ra trong lúc giao hợp là đường xâm nhập của HIV. Qua những vết xây xước này, HIV sẽ xâm nhập từ người bị nhiễm HIV sang người lành và từ đó vào máu. Trong tinh dịch người bệnh có chứa rất nhiều HIV, nên người nhận tinh dịch (đóng vai trò phụ nữ) có nguy cơ bị nhiễm HIV cao hơn so với người không nhận (đóng vai trò nam giới). Theo tạp chí Boston Globe (2007), ở Mỹ bệnh giang mai hay xảy ra ở những người đồng tính luyến ái nam do họ không sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục.

Một điều đáng lo lắng là nhiều người trong số họ có tư tưởng hưởng thụ quan hệ tình dục không an toàn (không dùng bao cao su), có thể cả họ và bạn tình đã mắc AIDS nên không cần giữ gìn hoặc họ ỷ lại những thuốc mới có thể giúp họ được. Chính vì vậy mà những người đồng tính luyến ái nam được xếp vào nhóm những người có nguy cơ cao bị lây nhiễm HIV/AIDS (đồng tính luyến ái nam, nghiện chích ma túy, gái mại dâm…).

Theo số liệu của Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, đa số những người nhiễm HIV là nam giới chiếm 84,64%, nữ 15,36%. Số người bị nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi trẻ từ 20 – 29 tuổi (55,10%), 30 – 39 tuổi (25,18%) và ngày càng có xu hướng trẻ hóa. Những người đồng tính luyến ái nữ có nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn so với nam giới. Họ thường âu yếm, vuốt ve nhau, kích thích những vùng nhạy cảm cơ thể của nhau, ít khi họ quan hệ tình dục với nhau (nhờ các dụng cụ hỗ trợ).

Tình dục đồng giới rất có hại cho sức khỏe. Ngoài việc bị nhiễm HIV/AIDS ra, những người đồng tính luyến ái nam hay bị viêm niêm mạc trực tràng, bị trĩ, rối loạn tiêu hóa, suy nhược thần kinh, mất ngủ… Vì vậy nên tránh quan hệ tình dục đồng giới hoặc quan hệ tình dục không an toàn. Nếu ai có hiện tượng bị quyến rũ bởi những người cùng giới, nên đến bác sĩ chuyên khoa thần kinh – tâm lý để được tư vấn và khám bệnh, giúp họ thăng bằng trở lại, tránh được những lệch lạc về giới tính.
TS. Phạm Xuân Ninh
Theo Suckhoevadoisong.vn

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về HIV/AIDS, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe các bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Nguồn:
http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/tinh-duc-dong-gioi-va-nguy-co-nhiem-hiv-aids-n98-2816

Cách phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con


Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể có nguy cơ nhiễm HIV, nếu sử dụng chung bơm kim tiêm với người khác hoặc quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su dù chỉ một lần. Cho đến nay y học vẫn chưa tìm ra vác xin để phòng lây nhiễm HIV, hoặc thuốc để chữa trị AIDS. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta có thể chủ động phòng lây nhiễm HIV bằng cách tự điều chỉnh hành vi có nguy cơ nhiễm HIV trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Cách phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con

Bệnh truyền nhiễm

Quá trình tiến triển của nhiễm HIV ở phụ nữ cũng tương tự như ở nam giới. Tuy nhiên, nhiễm HIV ở phụ nữ còn có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt và sức khoẻ sinh sản. Bà mẹ mang thai nhiễm HIV có thể truyền sang cho con.

Trong một số trường hợp, người mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền vi rút cho con trong quá trình mang thai, trong khi sinh hoạc khi cho con bú. Tuy nhiên, không phải tất cả những đứa trẻ dó các bà mẹ nhiễm HIV sinh ra đều bị nhiễm HIV. Tỷ  lệ lây nhiễm từ mẹ sang con nếu không được điều trị dự phòng là khoảng 30%. Các yếu tố dưới đây làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho con:

-         Mẹ vỡ ối sớm.

-         Mẹ bị nhiễm trùng lây qua đường tình dục và chưa điều trị khỏi.

-         Mẹ sử dụng rượu và ma tuý trong thời gian mang thai.

-         Cho con bú mẹ.

-         Hiện nay tại các bệnh viện phụ sản lớn đã có thuốc điều trị dự phòng miễn phí cho các trường hợp bà mẹ bị nhiễm HIV.

Phụ nữ trong thời kỳ mang thai bị nhiễm HIV nên:

+ Đến các cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị dự phòng miễn phí, nhằm làm giảm nguy cơ lan truyền HIV cho con.

+ Không cho con bú sữa mẹ sau khi sinh mà cho ăn bằng sữa thay thế và các thức ăn phù hợp khác. Nên hỏi ý kiến cán bộ y tế để biết loại thức ăn phù hợp cho từng độ tuổi của trẻ.

Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho người bạn đời:

Trên thực tế, có một số trượng hợp một trong hai người không bị nhiễm HIV. Trong trường hợp này, điều đầu tiên phải tính đến là tránh lây nhiễm HIV cho người kia. Hiện nay, ở Việt Nam đã có kỹ thuật để thực hiện được điều này.

-         Trường hợp người phụ nữ bị nhiễm HIV, nhưng người đàn ông không bị nhiễm. Để tránh lây nhiễm HIV, các bạn có thể cân nhắc khả năng thực hiện thu tinh nhân tạo tại cơ sở y tế.

-         Trường hợp người đàn ông bị nhiễm HIV, nhưng người phụ nữ không bị nhiễm. Hiện nay ở một số bệnh viện lớn ở Việt Nam đã thực hiện được kỹ thuật lọc rửa tinh trùng và thụ thai trong ống nghiệm. Tuy nhiên, kỹ thuật này rất đắt tiền và phức tạp.

Giảm nguy cơ lây truyền HIV cho con:

Người mẹ mang thại bị nhiễm HIV nếu được điều trị dự phòng bằng thuốc chống HIV ngày từ tuần thứ 28, thì khả năng lây nhiễm từ mẹ sang con giảm xuống còn từ 2-8%.

Tránh có  thai

Khi đã nhiễm HIV, bạn luôn luôn phải sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục. Bao cao su không những có tác dụng tránh thai mà còn tránh lây nhiễm HIV cho người bạn tình. Nếu người bạn tình cũng bị nhiễm HIV, thì bao cao su sẽ giúp cả hai người tránh bị nhiễm thêm các dòng vi rút khác, đồng thời tránh được các bệnh lây qua đường tình dục như lậu, giang mai, viêm gan vi rút, trùng roi,…
TH
Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về phòng tránh lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe hoặc tâm lý các bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Nguồn:
http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/phong-lay-nhiem-hiv-tu-me-sang-con-n98-2817

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

HIV/ AIDS và các bệnh ngoài da thường gặp

Người bị AIDS thường bị mắc các bệnh ngoài da nào? Đó là những thắc mắc thường gặp ở những người nhiễm HIV/AIDS, dưới đây là một số thông tin tham khảo về các bệnh ngoài da trên người bệnh AIDS.

Biểu hiện bệnh da thường gặp của AIDS là Sarcome Kaposi. Là dạng rất hiếm của ung thư chiếm khoảng 20% những trường hợp AIDS. Chẩn đoán Sarcome Kaposi nhờ Biopsy (sinh thiết). Thương tổn Sarcome Kaposi không đau, không ngứa. Thương tổn có thể xuất hiện bất cứ vùng da nào hay ở miệng. Màu sắc thương tổn thay đổi từ màu hồng đến màu đỏ sẫm, màu tím hay nâu và thường dễ bị nhầm với những thương tổn do vết cắn côn trùng, vết chàm, vết thâm tím... kích thước thay đổi từ đầu ghim đến đồng xu lớn và phát triển ngày càng lớn cho đến khi thành u. Có thể có một hoặc nhiều thương tổn, những thương tổn mới phát triển bất kỳ nơi nào trên da trong quá trình tiến triển của bệnh. Đôi khi Sarcome Kaposi có thể kèm theo u lympho và có thể u ở lách, gan, dạ dày, phổi...

Thương tổn u lớn ở mặt và các vùng da hở khác là vị trí đáng lưu ý làm cho bệnh nhân khó chịu, nên cắt bỏ hay phẫu thuật tại chuyên khoa da liễu. Khi khối u lan toả phải cần hoá trị liệu để kiểm soát.

- Những loại bệnh da khác liên quan tới AIDS. Có nhiều  bệnh da  xuất hiện liên quan tới AIDS. Điều cần nhấn mạnh là hầu hết các ban đỏ thường thấy trên bệnh nhân da liễu thông thường và không nhất thiết điều đó chỉ ra rằng bệnh nhân đó nhiễm HIV. Trên bệnh nhân HIV, bệnh da thường nặng và điều trị khác với người khoẻ mạnh bình thường. Khi xuất hiện ban đỏ trên da cần gặp bác sĩ da liễu để được kiểm tra, chẩn đoán và điều trị.

Nhiễm virut da thường gặp ở bệnh nhân HIV/AIDS. Bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ vùng nào trên da, niêm mạc miệng, mắt, mũi, trực tràng và sinh dục. Ở người nhiễm HIV/AIDS thường nặng, khó điều trị và hay tái phát.

Nhiễm Herpes simplex (còn gọi là bệnh mụn rộp, giời leo...) xuất hiện phổ biến quanh mũi, miệng và có thể xuất hiện ở mắt, hậu môn, sinh dục nhưng cũng có thể kèm theo ở bất kỳ vùng nào trên da. Trước khi xuất hiện bọng nước và loét, thương tổn thường đỏ,  nhạy cảm, nóng, ngứa và đau, mụn nước thành chùm có thể loét. Ở người thương tổn thường khỏi sau 5-10 ngày nhưng ở bệnh nhân AIDS thương tổn thường loét rộng ra, đau nhiều, lâu lành, có thể từ 3 đến 4 tuần hoặc lâu hơn. Điều trị bằng thuốc uống kháng virut. Thuốc bôi tại chỗ có thể áp dụng cho thương tổn khô. Kháng sinh được chỉ định khi có nhiễm trùng thêm. Một số bệnh nhân nặng có thể kèm theo sốt, đau đầu, yếu cơ đòi hỏi phải nhập viện và dùng thuốc kháng virut đường tiêm.

HIV/ AIDS và các bệnh ngoài da thường gặp

Bệnh truyền nhiễm

Bệnh zona: Bệnh do virut Herpes zoster, bệnh được biết với tên gọi là zona. Viut này cùng họ với loại virut gây bệnh thủy đậu ở trẻ em. Đỏ da xuất hiện đột ngột thành đám giới hạn ở một bên cơ thể, khi bệnh mới khởi phát thì vùng da thương tổn nhạy cảm và đỏ, thường rất đau nhức. Mụn nước, bọng nước xuất hiện thành chùm, có khi trợt loét, có trường hợp biểu hiện giống nấm, có cảm giác rát bỏng. Đau nhiều là triệu chứng cơ năng điển hình của bệnh, nguyên nhân do viêm dây thần kinh ngoại biên. Bệnh zona thường gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV. Đau có thể kéo dài nhiều tuần và có khi suốt cả cuộc đời. Dung dịch bôi tại chỗ và thuốc kháng virut uống giúp làm khô bọng nước và vết loét. Vết loét nhiễm trùng thì cần bôi thêm dung dịch kháng sinh. Bệnh lan toả nhiều cần phải nhập viện và có chỉ định dùng kháng virut bằng đường tiêm cũng như dùng thuốc mạnh hơn để khống chế cơn đau.

U mềm lây: là bệnh do virut thường gặp ở trẻ em, ít gặp hơn ở người lớn đang tuổi hoạt động tình dục. Thương tổn xuất hiện giống như hạt trai, bóng, màu sắc và kích thước thay đổi, bề mặt thương tổn lõm giữa, không đau và không ngứa. Bệnh thường gặp ở những người nhiễm HIV, thương tổn lan toả và phát triển bất kỳ vùng nào trên bề mặt da. Điều trị bằng cách nạo hay cắt thương tổn nhưng bệnh do virut nên chúng có thể tiếp tục phát triển ở vị trí khác.

Sùi mào gà, mụn cóc: do papilloma virus. Bệnh thường gặp lành tính, ít đau có thể xuất hiện bất kỳ vùng nào trên da, đặc biệt là ở chân, tay và mặt, cũng thấy ở vùng sinh dục hoặc hậu môn. Khi xuất hiện ở những người nhiễm HIV bệnh có khuynh hướng rộng hơn, nhiều hơn và lan toả hơn so với người thường. Khi tổn thương phát triển ở vùng trực tràng hay sinh dục, thương tổn thường lan rộng và gây khó chịu. Ở người nhiễm HIV, bệnh thường đề kháng với các phương pháp điều trị  và tái phát liên tục.

Bạch sản dạng lông ở miệng: Là bệnh hiếm gặp đặc trưng bởi những mảng trắng, nhỏ, mờ ở lưỡi. Thương tổn này gần đây gặp rất nhiều trên bệnh nhân HIV. Bệnh do virut thuộc họ Epstein Bar virus gây ra, chúng gây loét miệng ở trẻ em và gây khó khăn trong chẩn đoán phân biệt với bệnh nấm miệng.
TH
Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về HIV/ AIDS, nếu có những thắc mắc thêm về bệnh bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Nguồn: http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/hiv-aids-va-cac-benh-ngoai-da-thuong-gap-n98-2481

Khi nào nên dùng thuốc điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV


Tất cả các trường hợp có nguy cơ lây nhiễm HIV (dù thấp hay cao) đều có thể điều trị dự phòng phơi nhiễm bằng thuốc kháng vi rút (được viết tắt là ARV). Về mặt lý thuyết,.. [..]

Những trường hợp nào có thể điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV?

Tất cả các trường hợp có nguy cơ lây nhiễm HIV (dù thấp hay cao) đều có thể điều trị dự phòng phơi nhiễm bằng thuốc kháng vi rút (được viết tắt là ARV).

Về mặt lý thuyết, chỉ khi nào có sự tiếp xúc trực tiếp với máu và các dịch tiết của cơ thể người có HIV thì mới có nguy cơ lây nhiễm HIV. Cụ thể là:

-  Máu, chất dịch cơ thể của người có HIV bắn vào các vùng da bị tổn thương (chàm, bỏng, vết loét, xây xước từ trước) hoặc bắn vào niêm mạc (mắt, mũi, họng …)
-  Tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người có HIV bị vỡ đâm vào.
-  Vết thương do bị bơm kim tiêm hoặc các dụng cụ sắc nhọn đã hoặc đang dùng cho người có HIV đâm vào.
-  Quan hệ tình dục với người có HIV mà không sử dụng bao cao su.


Khi nào nên dùng thuốc điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV

Bệnh truyền nhiễm

Sử dụng thuốc chống phơi nhiễm đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ

Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm:

-  Không có nguy cơ lây nhiễm: Nếu máu và dịch tiết của người có HIV bắn vào những vùng da lành (không bị tổn thương hay xây xước)

-  Nguy cơ lây nhiễm thấp: Khi tổn thương da xây xát nông, không chảy máu hoặc chảy máu ít hoặc máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào niêm mạc không bị tổn thương viêm loét.

-  Nguy cơ lây nhiễm cao: tổn thương da sâu, rộng, chảy nhiều máu, máu và chất dịch cơ thể của người có HIV bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét rộng từ trước.

Cần làm gì trước khi bắt đầu điều trị?

-  Xét nghiệm máu để kiểm tra xem tại thời điểm hiện tại đã có vi rút HIV hay chưa (có thể bắt đầu điều trị ngay khi chưa có kết quả xét nghiệm nhưng nếu có kết quả xét nghiệm là dương tính thì dừng điều trị ngay)

-  Xét nghiệm nguồn lây nhiễm, nếu kết quả xét nghiệm là âm tính thì không cần điều trị hoặc dừng điều trị, tuy nhiên, cần nghĩ đến yếu tố nguồn lây nhiễm là người nghi có HIV đang ở trong giai đoạn cửa sổ (các xét nghiệm chưa tìm thấy kháng thể kháng vi rút HIV trong nguồn lây nhiễm) để quyết định việc dừng điều trị hay tiếp tục điều trị

Thời gian điều trị như thế nào?

Cần tiến hành điều trị ARV ngay cho người bị phơi nhiễm, đặc biệt là những người có nguy cơ lây nhiễm cao, càng sớm càng tốt. Tốt nhất là điều trị ARV sớm từ 2 đến 6 giờ sau khi bị phơi nhiễm và không điều trị muộn quá 72 giờ (3 ngày) kể từ khi có hành vi nguy cơ.
Thời gian điều trị thuốc ARV dự phòng phơi nhiễm kéo dài liên tục trong 4 tuần

Sử dụng thuốc kháng vi rút như thế nào (phác đồ)?

Phác đồ điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV thường gồm 2 loại thuốc ARV, hai loại phác đồ hay được sử dụng hiện nay là:
ZDV (Zidovudine) + 3TC (Lamivudine) hoặc d4T (Satvudine) + 3TC (Lamivudine)
Trong trường hợp có nguy cơ phơi nhiễm cao, có thể sử dụng thêm NFV (Nelfinavir)/ LPV (Lopinavir) hoặc EFV (Efavirenz).
Liều lượng điều trị như thế nào?
3TC : 150mg uống 2 lần / ngày
ZDV: 300mg uống 2 lần/ngày hoặc d4T : với người có trọng lượng dưới 60 kg: 30 mg uống 2 lần/ ngày, với người có trọng lượng từ 60 kg trở lên:  40 mg uống 2 lần / ngày
NFV : 1250 mg uống 2 lần/  ngày
LPV/r : 400mg/ 100mg uống 2 lần/ngày
EFV : 600 mg uống một lần vào buổi tối, trước khi đi ngủ là tốt nhất.

Chi phí điều trị như thế nào?

Hiện nay, chỉ các trường hợp bị phơi nhiễm khi đang làm nhiệm vụ chuyên môn mới được điều trị dự phòng miễn phí còn các trường hợp phơi nhiễm do cá nhân có hành vi nguy cơ không được hưởng chế độ miễn phí này. Tuy nhiên, những người bị phơi nhiễm có thể mua thuốc tại các hiệu thuốc theo chỉ định của bác sỹ. Theo Bác sỹ Trần Quốc Tuấn, bệnh viện Đống Đa, Hà Nội, chi phí cho một lần điều trị phơi nhiễm bằng thuốc ARV do nước ta sản xuất khoảng 1.200.000 đồng, còn nếu là thuốc ngoại thì khoảng 4.500.000 đồng. Các bạn có thể nháy chuột vào địa chỉ sau để xem danh sách chi tiết các điểm bán thuốc ARV ở Việt nam.

Những lưu ý khi điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV là gì?

- Thuốc kháng vi rút ARV có những tác động, ảnh hưởng không tốt đến cơ thể, do vậy trong suốt quá trình sử dụng thuốc phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sỹ và có sự theo dõi chặt chẽ của bác sỹ cũng như người thân.

- Trong thời gian điều trị dự phòng ARV cần theo dõi tác dụng phụ của thuốc ARV thông qua các xét nghiệm: Xét nghiệm công thức máu, đo chỉ số men gan ALT/SGPT lúc bắt đầu điều trị và sau khi điều trị được 2 tuần, xét nghiệm đường máu.

- Đồng thời, người bị phơi nhiễm cần xét nghiệm HIV lại sau 2,5 tháng (tương đương với 10 tuần) kể từ thời điểm bị phơi nhiễm/ có hành vi nguy cơ. Nếu kết quả xét nghiệm là âm tính, có thể yên tâm rằng không bị lây nhiễm HIV trong tình huống đó.

- Trong thời gian điều trị dự phòng phơi nhiễm và chờ làm xét nghiệm, người bị phơi nhiễm cần thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm cho người khác.

Việc dự phòng lây nhiễm HIV khi gặp tình huống rủi ro có sự tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc các dịch tiết từ cơ thể người có HIV là rất quan trọng và rõ ràng là giúp người bị phơi nhiễm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV. Tuy nhiên, mỗi lần điều trị phơi nhiễm thường kéo dài và có những ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe, kinh tế, tâm lý… chính vì vậy, không coi điều trị phơi nhiễm là biện pháp bảo vệ bản thân khỏi nguy cơ lây nhiễm HIV mà cần chủ động phòng tránh lây nhiễm HIV bằng các biện pháp tích cực, chủ động hơn.

TH (Tuoitre)

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về bệnh truyền nhiễm HIV/AIDS. Nếu có những thắc mắc thêm bạn hãy gọi đến tổng đài 19008909 để nhận được sự tư vấn về các bệnh truyền nhiễm, HIV/AIDS.

Nguồn:http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/khi-nao-nen-dung-thuoc-dieu-tri-du-phong-phoi-nhiem-hiv-n98-2512

Tổng đài tư vấn HIV trực tuyến 1900.8909


Nếu bạn đang nghi ngờ mình nhiễm HIV hoặc bạn đã bị nhiễm HIV hãy gọi tới tổng đài tư vấn HIV/AIDS 1900.8909 để được các chuyên gia tư vấn HIV/AIDS đưa ra những lời khuyê.. [..]

Nếu bạn đang nghi ngờ mình nhiễm HIV hoặc bạn đã bị nhiễm HIV hãy gọi tới tổng đài tư vấn HIV/AIDS trực tuyến 1900.8909 để được các chuyên gia tư vấn HIV/AIDS đưa ra những lời khuyên và giải pháp tốt nhất cho bạn.

Tư vấn HIV/AIDS trực tuyến của Ucare là địa điểm đáng tin cậy, an toàn và thân thiện cho các bạn. Bởi Ucare có đội ngũ các bác sĩ, chuyên gia tâm lý giàu kinh nghiệm luôn luôn lắng nghe và chia sẻ cùng các bạn.

Tổng đài tư vấn HIV trực tuyến 1900.8909

Bệnh truyền nhiễm

Tư vấn HIV trực tuyến

Ảnh hưởng của virus HIV đối với con người

Sự phá huỷ của vi rút HIV diễn ra trong một thời gian dài, khoảng từ 6 tháng đến 10 năm. Nên hầu hết những người bị nhiễm HIV đều có vẻ ngoài khoẻ mạnh, không có triệu chứng gì trong nhiều năm. Vì vậy, nếu bạn đang nghi ngờ mình nhiễm HIV hoặc bạn đã bị nhiễm HIV hãy gọi cho trung tâm tư vấn HIV/AIDS để được các chuyên gia tư vấn  HIV/AIDS đưa ra những lời khuyên và giải pháp tốt nhất cho bạn.

Tổng đài tư vấn HIV trực tuyến 1900.8909

Bạn đang nghi ngờ nhiễm HIV/AIDS và đang trong tình trạng rất sốc? Hoặc bạn đã nhiễm HIV? Bạn bị nhiễm HIV/AIDS và bị mọi người đối xử kỳ thị phân biệt? Bạn đang muốn biết các thông tin về điều trị, chế độ dinh dưỡng, cách chăm sóc sau khi bị nhiễm HIV? Bạn có người thân nhiễm HIV và bạn đang muốn biết các thông tin để chăm sóc cho người HIV tại gia đình và cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS trong gia đình? …Nếu bạn đang thắc mắc một trong các câu hỏi trên, hãy gọi ngay cho tổng đài tư vấn HIV/AIDS 1900.8909 của LET VIỆT để được tư vấn hỗ trợ điều trị.

Với dịch vụ tư vấn HIV/AIDS của UCare, chúng tôi sẽ chia sẻ cho các bạn những kiến thức liên quan đến HIV. Tư vấn HIV/AIDS giúp bạn hiểu được HIV/AIDS là gì? Tư vấn HIV/AIDS cho bạn cách điều trị và chế độ dinh dưỡng ăn uống hợp lý và cách chăm sóc khi bị nhiễm HIV. Tư vấn HIV/AIDS cho bạn biết những đường lây nhiễm của HIV để có cách phòng tránh cho chính bản thân, gia đình và cho cộng đồng. Ngoài ra, dịch vụ tư vấn HIV/AIDS của chúng tôi còn tư vấn cho bạn kỹ năng sống tự tin hơn để xóa dần mặc cảm giúp bạn thay đổi cách nhìn, từ đó có thể phá bỏ rào cản ngăn cách với xã hội để hòa nhập tham gia vào các hoạt động xã hội… thay đổi cuộc đời.

Lưu ý: Thời gian làm việc của tổng đài tư vấn HIV/AIDS/AIDS là từ 24/7 tất cả các ngày trong tuần. Và mọi vấn đề thông tin của khách hàng luôn được trung tâm tư vấn HIV/AIDS cam kết giữ tuyệt đối bảo mật.

Nguồn: http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/tong-dai-tu-van-hiv-truc-tuyen-1900-8909-n98-2608

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Địa chỉ thăm khám HIV tại TPHCM

Trung tâm tham vấn, xét nghiệm tự nguyện, miễn phí, giấu tên 
Địa chỉ: 475 Cách mạng tháng 8, phường 13, quận 10, TP HCM
Điện thoại: (08) 8620198

Trung tâm tham vấn, xét nghiệm tự nguyện, miễn phí, giấu tên
Địa chỉ: 10/3 Lương Định Của, phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM

Trung tâm Y tế dự phòng
Địa chỉ: 699 Trần Hưng Đạo, quận 5, TP HCM
Điện thoại: (08) 8355070, (08) 8356119

Phòng tham vấn quán Café BCS 2 (ATS)
Địa chỉ: 53 Vũ Tùng, phường 2, quận Bình Thạnh, TP HCM
Điện thoại: (08) 5107155, (08) 5107156

CLB Bạn giúp bạn
Địa chỉ: 43 Lam Sơn, quận Phú Nhuận, TP HCM
Điện thoại: (08) 8031162

Trung tâm tham vấn hỗ trợ cộng đồng
Địa chỉ: 314 Âu Dương Lân, phường 3, quận 8, TP HCM
Điện thoại: (08) 8518038, (08) 9500648

Nguồn: Cachchuabenh.net

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Bao cao su bị rách liệu có nhiễm HIV không?


Câu hỏi:

Bạn Hải Yến chia sẻ: Lấy nhau rồi tôi mới biết anh nhiễm HIV. Anh bảo tôi ly dị để tìm hạnh phúc khác, nhưng vì yêu tôi chấp nhận sống chan hòa để anh được vui mặc dù biết không thể có con.

Trả lời:

Cachchuabenh.net xin được tư vấn cho bạn như sau:

Tình huống của chị chia sẻ được xem là phơi nhiễm có ý nghĩa. Như mô tả của chị, thời gian phơi nhiễm cũng không lâu, vẫn còn trong giới hạn cho phép để tiếp cận điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV. Chị có thể đến bệnh viện bệnh nhiệt đới, hay các cơ sở y tế chuyên khoa nhiễm để trình bày tình huống của mình và yêu cầu can thiệp bằng thuốc. Hiệu quả của điều trị dự phòng sau phơi nhiễm có thể lên đến 90-95% nếu điều trị đúng cách.

Và tôi xin chia sẻ với cảnh ngộ của anh chị. Trong lòng tôi thầm cảm phục cả hai vợ chồng cũng như tình cảm chân thành mà anh chị đã dành cho nhau. Thực tế, tình yêu có những sức mạnh nhiệm màu, chiến thắng mọi trở ngại và rào cản, bao gồm cả bệnh tật và đói nghèo. Anh và chị cũng khiến tôi thêm tin vào tình yêu ấy.


Cachchuabenh.net

Tin vui: Phụ nữ vẫn có thể mang thai khi bị nhiễm HIV


Tinh trùng sẽ được lấy từ người đàn ông không bị nhiễm HIV, được làm đông lạnh trước khi đem thụ tinh nhân tạo. Tuy nhiên, ông Alan Trounson, một chuyên gia thụ tinh nhân tạo của Australia cho rằng tỷ lệ 2% vẫn là quá cao để bật đèn xanh cho việc thụ tinh nhân tạo như vậy.

Và theo các chuyên gia sản phụ khoa của Australia đã thống nhất về mặt nguyên tắc cho phép các phụ nữ nhiễm HIV được điều trị đặc biệt trước khi mang thai nhờ thụ tinh nhân tạo. Quyết định này được đưa ra ngày 13/8. Theo các bác sĩ, ở những phụ nữ được điều trị bằng các loại thuốc chống HIV, nguy cơ truyền HIV sang thai nhi có thể giảm từ 25% xuống còn 2%.


Cachchuabenh.net (TH)

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Sau quan hệ với gái mại dâm 1 tháng bị nổi mẩn đỏ

1. Câu hỏi:
Cách đây 1 tháng em có quan hệ với gái mại dâm có sử dụng bao cao su nhưng trước đó gái mại dâm có ngậm dương vật của em khoảng 1 phút. Một tuần gần đây, mỗi khi buổi trưa hay trời nóng lòng bàn tay và bàn chân của em có nổi mẩn đỏ, hơi ngứa nhưng không đến nỗi phải gãi (nhìn như nốt phát ban).

Bên cạnh đó, trên người em cũng bị ngứa nhưng không nổi mẩn đỏ như: vùng da trước ngực, tay sau, lưng, vùng da quanh nách, đùi và cổ. Vậy có phải em đã bị nhiễm virus HIV rồi không ạ?



2. Trả lời:
Các triệu chứng mà em mô tả: trời nóng lòng bàn tay và bàn chân nổi mẩn đỏ, hơi ngứa (giống như nốt phát ban) và đồng thời vùng da trước ngực, tay sau, lưng, vùng da quanh nách, đùi và cổ cũng ngứa (nhưng không nổi mẩn đỏ) giống hiện tượng dị ứng do thời tiết nóng nhiều hơn.

Còn nếu mà bị nhiễm HIV thì cơ thể sẽ trải qua 4 giai đoạn bệnh lý như sau:

1. Giai đoạn sơ nhiễm: Lúc mới nhiễm HIV sẽ có một vài biểu hiện như sốt mệt mỏi, nhức đau tay chân… kiểu như bị cảm cúm.

2. Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng: Giai đoạn này, cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng. Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu). Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm.

3. Giai đoạn có liên quan đến AIDS: Sau vài tháng đến vài năm từ lúc bị nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đổ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy… Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp.

4. Giai đoạn bệnh AIDS: thực sự tương đương với hệ miễn dịch bị tàn phá gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch… Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm.


Cachchuabenh.net (TH)

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Quan hệ với gái còn chinh để chữa HIV

Cảnh quan vùng nông thôn Eastern Cape ở Nam Phi có một vẻ đẹp ám ảnh, với những ngôi nhà nhỏ thấp thoáng mái vòm trải dọc các ngôi làng như kéo dài tới bất tận.

Tuy nhiên, tại những ngôi làng này cũng còn duy trì một truyền thống khủng khiếp, đã tàn phá cuộc sống của nhiều trẻ em và làm không biết bao gia đình rơi nước mắt.


Trong những ngôi làng này, các cô gái trẻ, chỉ khoảng 12 tuổi, bị những người đàn ông lớn tuổi hơn bắt cóc về làm vợ. Điều này được chấp nhận như là một phần trong văn hóa truyền thống của người Xhosa nơi đây, và không hề bị mai một trong nhiều thập kỷ qua

Vì tin rằng ngủ với những cô gái trẻ còn trinh sẽ giúp mình khỏi bệnh, nhiều nam giới bị HIV ở vùng nông thôn Eastern Cape (Nam Phi) đã bắt các thiếu nữ về làm vợ, và biện minh hành động này là theo truyền thống địa phương.

Tục Ukuthwala - gọi là "cưỡng dâu" hay "bắt dâu" được sử dụng để biện minh cho hành động bắt cóc các cô gái trẻ. Trong nhiều trường hợp, việc này được sự đồng tình của cha mẹ nạn nhân để đổi lấy một khoản tiền.

Tuy nhiên, một chiến dịch nhằm giáo dục cộng đồng bị cô lập này rằng phải thay đổi hành động trái pháp luật là quan hệ với trẻ vị thành niên và bắt cóc trả tiền, đã được thực hiện và bắt đầu có những kết quả khả quan.
Chị Nombasa Gxuluwe sinh ra tại Eastern Cape, là nhân viên dự án của Chiến dịch phòng chống Aids toàn cầu (WAC). Chị đã cống hiến hết mình nhằm cố gắng chấm dứt nạn mua bán cô dâu, trong đó nhiều nạn nhân là trẻ em.

Nhiều nam giới từng là thủ phạm bắt cóc cô dâu, như anh Timothy Nyawuse, thì lý do đơn giản là họ không nhận thức được rằng việc làm đó là sai trái.

"Chúng tôi xin lỗi vì chúng tôi không biết mình đã làm trái pháp luật", anh nói với CNN.

Nombasa và nhiều thành viên khác trong tổ chức đã dành nhiều giờ trò chuyện với những người đàn ông trong làng, để giảng giải cho họ hiểu rằng luật bây giờ đã khác.

Vấn đề phức tạp, theo Nombasa, là có một huyền thoại rằng nếu một người đàn ông bị nhiễm HIV ngủ với một cô gái trẻ còn trinh trắng thì sẽ được chữa khỏi bệnh. Và đó là lý do khiến họ săn tìm các thiếu nữ.

Nombasa cho biết, nhiều kẻ bắt cóc là những người đàn ông lớn tuổi hơn, đã góa vợ vì HIV. Sau đó, họ tìm kiếm các "cô dâu trinh nữ" trẻ và cuối cùng cũng lây nhiễm bệnh cho các cô gái.

Trong một bộ phim tài liệu "Tục cướp dâu - Đánh cắp sự trinh trắng" do Chiến dịch phòng chống Aids toàn cầu thực hiện, một cô gái sống trong làng ở Lusikisiki thuộc Eastern Cape kể về câu chuyện của mình - một nạn nhân của tập tục này:

Truyền thống này bắt nguồn từ các cuộc hôn nhân sắp đặt, nơi mà các phụ huynh hay già làng có tiếng nói định đoạt người mà các cô gái nên lấy làm chồng. Những người sống trong các ngôi làng còn chưa có điện và nước máy này không biết rằng, thế giới hiện đại có thể nhìn thấy những việc họ làm.

"Bà hàng xóm gọi tôi tới và hỏi tôi có muốn lấy chồng không. Tôi nói không. Bà ta bảo rằng tôi từ chối họ sẽ bắt cóc và đánh tôi. Đêm hôm sau, bà ấy đến và đưa tôi tới sông. Có 7 người đã đợi sẵn ở đó. Họ bắt tôi đi theo họ tới căn nhà có một người đàn ông đang ở. Người đàn ông đó nói với tôi rằng ông ta đã phải trả một con bò để có được tôi và dù tôi có thích hay không thì cũng phải làm vợ ông ta. Ông ta đã đẩy tôi lên giường và cưỡng bức tôi, dù tôi có van nài thế nào".

Với một số người can đảm dám chạy trốn khỏi cuộc hôn nhân bất hợp pháp của mình, có một nơi để họ trú ẩn. Đó là trung tâm hỗ trợ Palmerton - một ngôi nhà được đặt trong nhà thờ Methodist ở Lusikisiki. Tại đây, các nhân viên xã hội sẽ tư vấn cho các cô gái trẻ và sau đó giúp họ hòa nhập lại với cộng đồng.

Đây là một hành trình không dễ dàng. Nhiều người đã bỏ học từ lâu. Một số đã nhiễm HIV. Số khác thì bị gia đình ruồng rẫy và đổ tội mang tiếng xấu cho bố mẹ vì dám bỏ chồng.

Nombasa nói: "Họ thấy mình như những kẻ nổi loạn, không thể kiểm soát vì không tuân theo những quy định của cha mẹ và cộng đồng nơi mình sống".

Cơ quan điều tra quốc gia ở Nam Phi đang nỗ lực phối hợp với các làng xung quanh KwaCele để tuyên truyền cho người dân hiểu việc thực hiện tập tục này là trái pháp luật. Năm ngoái, có đã 11 nam giới bị buộc tội bắt cóc và có quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên.

Chị Nombasa cho biết, từ tháng 12/2011 đến nay chưa có thêm trường hợp nào mới được báo cáo. "Có vẻ như chúng tôi đã thắng", chị nói.


Cachchuabenh.net (Tổng Hợp)

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Tổng Đài Tư Vấn Sức Khỏe 1900.8909