Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Những tai biến có thể khi tiêm phòng vắc xin

Nếu không được sử dụng vaccin thì cơ thể sẽ dễ nhiễm bệnh và tình trạng bệnh nếu có sẽ dễ bị nặng. Nhưng nếu được sử dụng vaccin đầy đủ thì cơ thể sẽ ít bị nhiễm bệnh hoặc nếu có nhiễm bệnh thì mức độ bệnh cũng không đến mức tử vong.


Bản chất là mầm bệnh

Vaccin là những chế phẩm sinh học chứa mầm bệnh hay những thành phần tương tự mầm bệnh đã được làm giảm độc lực hay hoạt tính để làm mất hoặc giảm khả năng gây bệnh nhưng còn giữ được tính kháng nguyên. Bằng cách chủng vaccin, kháng nguyên của mầm bệnh sẽ được trình diện để cơ thể tiếp xúc và phản ứng. Những mầm bệnh này sẽ tác động vào các cơ quan miễn dịch để kích thích tạo ra những thành phần có thẩm quyền miễn dịch như kháng thể, bổ thể, tạo ra các dấu ấn miễn dịch mà không làm tổn thương tế bào sống hay cơ quan. Sự phản ứng giống như là cơ thể đang chống cự lại với một bệnh tật thật sự, chỉ khác là mầm bệnh mà cơ thể đang chiến đấu chỉ là những yếu tố hay sinh thể sống đã bị làm yếu đi rất nhiều. Kết quả là cơ thể sẽ thắng và tạo ra một trí nhớ miễn dịch lâu dài. Về sau, nếu cơ thể bị nhiễm phải mầm bệnh này thì cơ thể sẽ đủ sức tạo ra một cơ số kháng thể để kháng cự.

Nếu không được sử dụng vaccin thì cơ thể sẽ dễ nhiễm bệnh và tình trạng bệnh nếu có sẽ dễ bị nặng. Nhưng nếu được sử dụng vaccin đầy đủ thì cơ thể sẽ ít bị nhiễm bệnh hoặc nếu có nhiễm bệnh thì mức độ bệnh cũng không đến mức tử vong. Đó chính là ưu điểm tuyệt đối của vaccin

Các loại vaccin hiện nay

Cho đến nay chúng ta đã có khá nhiều loại vaccin. Các vaccin tuy khác nhau ở thành phần, công nghệ chế tạo và tác dụng nhưng về bản chất thì chúng bao gồm ba loại sau đây:

Loại 1: là các vaccin chứa các mầm bệnh còn sống đã được làm yếu đi (vaccin sống giảm độc lực) như vaccin chống bệnh bại liệt, than, dịch hạch, đậu mùa, sốt vàng, lao và dại.

Loại 2: là những vaccin chứa các mầm bệnh đã chết như vaccin thương hàn, phó thương hàn, cúm, ho gà, bại liệt, sởi, cúm rubella (sởi Đức), tả.

Loại 3: là các vaccin chứa độc tố gây bệnh đã được giảm độc tính như vaccin chống bạch hầu, uốn ván.

Chủng ngừa vaccin là một biện pháp hiệu quả để đẩy lùi tỷ lệ bệnh truyền nhiễm. Ưu điểm nổi trội của vaccin là không thể chối cãi. Tuy nhiên, nó không phải là một chế phẩm chỉ có ưu điểm, bản thân nó cũng chứa những rủi ro đáng ngại.

Các tai biến có thể gặp

Như đã nói ở trên, bản chất vac-cin dù hiểu như thế nào thì cũng chính là mầm bệnh, thế nên chúng cũng chứa những tai biến và biến chứng sinh học cần dè chừng. Không thể không chủng vaccin nhưng cũng không thể sử dụng không đúng chỉ định.

Một trong các tác dụng phụ đáng ngại chính là gây biến chứng tại chỗ nếu sử dụng vaccin theo đường tiêm. Chúng có thể gây viêm, sưng, phồng đau nơi tiêm. Đau đến mất ngủ. Tệ hơn chúng có thể đưa đến loét da tại chỗ gây nhiễm khuẩn. Tác dụng khác cũng gây khó chịu đó là sốt cao, thậm chí là sốt rất cao do chúng gây ra các phản ứng miễn dịch. Sốt do tiêm vaccin có thể lên đến 40oC hoặc hơn gây ra co giật ở trẻ em. Kèm theo sốt là hiện tượng đau mỏi cơ khớp, ê ẩm mình mẩy như một người ốm thực sự. Có khi chúng ta còn thấy cơ thể nổi ban đỏ khắp người hoặc cảm giác chóng mặt kéo dài, giảm trí nhớ và có thể mắc bệnh ở não trầm trọng sau khi sử dụng.

Ngoài ra, một biến chứng khác chính là dị ứng với vaccin. Ở một số người và một số loại vaccin cụ thể người ta có thể gặp những phản ứng dị ứng quá mức có hại. Các phản ứng dị ứng này có thể gây ra tử vong nếu không được xử trí bài bản và đúng quy trình. Hiện tượng dị ứng với vaccin là do cơ thể dị ứng với những chất đệm trong vaccin hay dị ứng với chính những kháng nguyên là những protein trong thành phần của nó. Dứt khoát sau khi tiêm vaccin 15 phút, chúng ta phải ở lại nơi tiêm để được quan sát và xử lý những dị ứng có thể xảy ra.

Tất cả những tác dụng không mong muốn trên là những tác dụng phụ thường gặp nhất. Song có lẽ tác dụng phụ hay biến chứng tai hại nhất của nó chính là nhiễm mầm bệnh mà vaccin đưa vào. Điều này có thể do vaccin kém chất lượng, không làm giảm hoạt tính gây bệnh đủ mức cần thiết hay là cơ thể không đủ khả năng miễn dịch tối thiểu để tiêu diệt những mầm bệnh “yếu xìu” này. Vì thế thay vì phòng bệnh cơ thể lại nhiễm bệnh. Tai biến này cần đặc biệt được lưu tâm với các vaccin sống giảm độc lực như vaccin lao và dại. Người bệnh không những không phòng được lao và dại mà còn mắc chính lao và dại do mầm bệnh trong vaccin trỗi dậy. Để tránh những biến chứng này, việc sử dụng đúng vaccin cho đúng đối tượng là tiêu chuẩn hàng đầu.


Những đối tượng cần đặc biệt lưu ý

Vì vaccin có thể gây phản ứng dị ứng nên chúng ta cần hết sức chú ý với những người hay bị dị ứng. Cụ thể, những người mà dị ứng với kháng sinh neomycin hay polymyxin B thì không nên sử dụng vaccin rubella, sởi, quai bị hay vaccin phối hợp (vaccin MMR chống ba bệnh sởi-quai bị-rubella). Những người mà dị ứng với nấm men thì không nên sử dụng vaccin phòng nhiễm viêm gan virus B. Những bệnh nhân mà bị dị ứng với kháng sinh dòng aminoglycosid như gentamicin, streptomycin thì không nên sử dụng vaccin cúm do chúng có thể gây dị ứng dữ dội. Còn nếu những đối tượng có dị ứng với trứng gà thì hãy dè chừng với những vaccin chống cúm, sởi, quai bị vì chúng được chế tạo trong phôi gà. Do vậy, hỏi kỹ về tiền sử dị ứng ở những người này bao gồm dị ứng thuốc, dị ứng thức ăn là một việc làm cần hết sức cẩn thận trước khi tiêm chủng.

Lý do vaccin có thể làm nhiễm chính mầm bệnh của vaccin nên những người có sức khoẻ yếu, đang mắc bệnh cấp tính, mắc bệnh nhiễm trùng, đang điều trị hoá chất, bị suy giảm miễn dịch thì cần điều chỉnh chiến lược dùng vaccin. Ví dụ, những người bị viêm phổi hay bị viêm phế quản mạn giai đoạn bùng phát thì nên cân nhắc khi sử dụng vaccin cúm. Phụ nữ mang thai không nên sử dụng vaccin chống bại liệt. Ba tháng sau khi sử dụng vaccin rubella, sởi, quai bị mới nên có thai vì những vaccin này có thể gây quái thai cho thai nhi. Những người đang sốt cao cũng không nên sử dụng vaccin ngay trong giai đoạn sốt.

Và cuối cùng, vì những tác dụng phụ đáng ngại nên ngoại trừ những vaccin thông thường thì các vaccin khác cần phải có chỉ định đầy đủ khi sử dụng. Đó là những vaccin chống lại những bệnh cụ thể ở một số nhóm đối tượng cụ thể. Nếu không thì rất có thể sẽ gia tăng nguy cơ khi sử dụng, các nguy cơ khác nhau phụ thuộc vào tuổi, bệnh sẵn có và ngành nghề. Những vaccin này bao gồm: vaccin chống viêm gan A, phòng tả, dại và thương hàn.

Trong qua trình sử dụng vaccin chúng ta cần lưu ý là phải sử dụng đủ liều, đủ lần thì cơ thể mới đủ khả năng miễn dịch hay đủ trí nhớ miễn dịch sau này. Cần thiết tuân theo lịch tiêm chủng và tham gia đầy đủ, nhất là 3 tháng đầu sơ sinh. Tham gia càng đủ, chúng ta càng ít cơ hội nhiễm bệnh.

Với sự phát triển của khoa học như ngày nay, nhiều loại vaccin mới đã được tạo ra với hoạt tính mạnh hơn, an toàn hơn. Nhưng cho dù có vậy thì chúng vẫn chứa trong mình những nguy cơ quan ngại không tránh khỏi. Vì thế, mỗi người, không chỉ mỗi gia đình mà mỗi bác sĩ hãy dùng vaccin an toàn để có một hiệu quả tối ưu trong công cuộc phòng chống bệnh tật của quốc gia.

BS. Yên Lâm Phúc

Theo Sức khỏe và đời sống

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe, nếu có thêm những thắc mắc về sức khỏe, tâm lý các bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Thông tin cơ bản về thụ tinh trong ống nghiệm

Tại Bỉ và các quốc gia Bắc Âu luật pháp cho phép tạo ra số lượng không hạn chế phôi thai ngoài cơ thể người phụ nữ. Số dư thừa so với nhu cầu có thể bảo quản bằng thiết bị ướp lạnh, chỉ đưa vào tử cung tối đa ba phôi.

Khoảng 20% các cặp trong độ tuổi ở các quốc gia Âu, Mỹ gặp khó khăn trong nỗ lực sinh con. Trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có thực tế ngày càng quyết định sinh con muộn. Trong với thập kỷ trước, số phụ nữ sinh con đầu ở tuổi 35-39 tăng gần 40%, con số “mẹ trẻ” lứa tuổi 40-44 tăng tới 70%. Cũng chỉ riêng nước Mỹ năm 2002 đã ghi nhận 263 trẻ là con đầu lòng của những bà mẹ 50-54 tuổi.

4bbTiem-tinh-trung-vao-trong-nang-buong-trung


Tại Bỉ và các quốc gia Bắc Âu luật pháp cho phép tạo ra số lượng không hạn chế phôi thai ngoài cơ thể người phụ nữ. Số dư thừa so với nhu cầu có thể bảo quản bằng thiết bị ướp lạnh, chỉ đưa vào tử cung tối đa ba phôi. Số lượng phôi cấy một lần sẽ được quyết định bởi các yếu tố: độ tuổi, tình trạng sức khỏe và cơ may sinh con của người phụ nữ. Nếu cặp vợ chồng không muốn tận dụng số phôi dư thừa, có thể dành chúng để đáp ứng nhu cầu con nuôi, thí dụ tặng cho cặp vợ chồng mà cơ thể người phụ nữ không có khả năng sinh trứng; người đàn ông – không có tinh trùng.

Costa Rica là quốc gia cấm hoàn toàn phương pháp thụ tinh nhân tạo. Điều này được ghi trong hiến pháp.
Các nguyên nhân vô sinh nam có thể mang tính di truyền. Cũng có thể là hậu quả các tình trạng viêm nhiễm, biến chứng sau bệnh tật. Tuy nhiên ngày càng nhiều trường hợp đơn giản vì điều kiện lao động như tình trạng xảy ra với lái xe chuyên nghiệp hay những nghề đàn ông bị nguy cơ “hâm nóng” tinh hoàn đe dọa. Các chất phụ gia hóa chất và hoóc-môn đưa vào thực phẩm, các chất tẩy rửa trong thành phần có hợp chất với cấu trúc tương tự hoóc-môn nữ giới và có thể làm rối lọan quá trình sản xuất tình trùng cũng là thủ phạm nguy hiểm. Với sự trợ của y học giúp sinh sản nam nguyên nhân vô sinh do di truyền, khoa học có thể chuyển giao khuyết tật này cho thế hệ kế tục.

Những rối loạn rụng trứng ở phụ nữ thường liên quan đến trạng thái stress. Do tác động của stress, cơ thể người phụ nữ sản sinh số lượng lớn hơn bình thường prolactin – hoóc-môn có thể gây rối loạn hoạt động của buồng trứng và làm rối loạn chu kỳ kinh nguyệt.

Cơ may có thai trong điều kiện có sự trợ giúp của y học trong những bệnh viện tốt nhất lên tới 40%, với điều kiện phải đưa vào tử cung người mẹ tương lai hai phôi đang phát triển. Cơ may giảm xuống mức hơn 20% – trường hợp chỉ cấy một phôi. Theo phương pháp này tỷ lệ sinh đôi thường là 20%.

Người mẹ cao tuổi nhất thế giới sinh con từ ông nghiệm là cụ bà Rajo Devi người Ấn Độ 70 tuổi. Cụ sinh cô con gái khỏe mạnh vào tháng 11/2008. Không ai biết xuất xứ của trứng và tinh trùng đã sử dụng trong ca trợ giúp đặc biệt này.
Louise Brown, bé gái đầu tiên sinh ra bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm đến năm 2010 đã tròn 32 tuổi. Chị đã có con – bé trai 4 tuổi (thụ thai và sinh bình thường, theo cách truyền thống).

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Khi trẻ sợ uống thuốc!


Trẻ rất sợ uống thuốc dù thuốc có đắng hay không đắng. Rất nhiều bậc cha mẹ đau đầu nghĩ đủ mọi cách để trẻ chịu uống thuốc. Việc tìm một phương pháp riêng cho trẻ là điều phụ huynh cần tìm ra. Dưới đây là những gợi ý thiết thực.

Khi trẻ sợ uống thuốc!

Tâm lý trẻ em

Đối với những trẻ còn nhỏ

Đa số các loại thuốc đều có mùi vị rất đắng, đây cũng là nguyên nhân chính khiến trẻ kháng cự khi bị buộc phải uống thuốc. Do đó, nhiều bậc phụ huynh cho thuốc vào chung với thức ăn, nước trái cây hay nước đường... vì những loại thức uống này có vị ngọt mà trẻ rất thích. Cũng có người ngụy trang thuốc có hình viên kẹo sau đó cùng trẻ chơi trò chơi, xem ai nuốt trước viên kẹo sẽ là người chiến thắng, do đó trẻ sẽ tranh thủ nuốt viên thuốc vào bụng mà chưa kịp nếm thấy vị đắng của thuốc.

Cách này xem ra cũng khá hiệu quả để giải quyết việc uống thuốc khó khăn của trẻ. Nhưng nó sẽ làm mất đi niềm tin của con trẻ sau này. Trẻ sẽ lớn lên và không bao lâu chúng sẽ nhận biết rằng bạn đang nói dối chúng. Đến lúc đó việc uống thuốc sẽ trở nên khó khăn hơn.

Có nhiều người khi dụ trẻ, thường hứa cho kẹo hay đồ chơi nếu trẻ chịu uống thuốc ngoan ngoãn, cách này cũng rất hiệu quả trong việc khuyến khích trẻ uống thuốc một cách tự nguyện nhưng người lớn cũng không nên đưa ra những đáp ứng quá cao cho trẻ vì việc này cũng không tốt cho trẻ sau này. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp khi biện pháp dỗ ngọt bé không còn hiệu quả, nhiều bậc cha mẹ dùng tới phương thức dọa nạt trẻ bằng roi vọt mặc cho trẻ có khóc la thế nào. Khi chúng nhìn thấy nét mặt giận dữ của người lớn, chúng cũng không còn dám kháng cự, nhưng với trạng thái trẻ sợ hãi không thoải mái thế này sẽ làm trẻ bị ức chế tâm lý và càng sợ hãi hơn cho những lần uống thuốc sau này.

Trẻ lớn cần hiểu “thuốc đắng giã tật”

Dùng thái độ dứt khoát để nói với trẻ: con bị bệnh nhất định phải uống thuốc, mặc dù thuốc rất đắng nhưng nó sẽ giúp con hết bệnh và khỏe mạnh. Trẻ tuy còn nhỏ nhưng chúng phần nào cũng hiểu được lý lẽ. Chúng có thể chần chừ không chịu uống nhưng với thái độ nghiêm túc của cha mẹ chúng sẽ ý thức được việc này không thể không thực hiện và cuối cùng cũng sẽ uống thuốc một cách ngoan ngoãn.

Hay có thể đặt thuốc và ly nước trước mặt trẻ, nói với trẻ rằng: con đã lớn rồi cần phải biết tự uống thuốc; việc này sẽ tạo cho trẻ ý thức về nhiệm vụ của mình, cho trẻ biết trẻ đã lớn thì chỉ với viên thuốc nhỏ như thế thì chẳng có gì đáng sợ cả.

Làm gì khi trẻ nôn thuốc sau khi uống?

Với người lớn, việc uống thuốc rất dễ dàng như mở há miệng, cho thuốc vào và nuốt. Còn đối với trẻ nhỏ, do chức năng nuốt của chúng chưa hoàn thiện, nên rất khó tránh khỏi việc sặc thuốc và nôn ra ngoài. Do đó, cần để cho trẻ uống thuốc một cách thoải mái, đầu trẻ ngẩng cao, mặt hơi nghiêng rồi đưa muỗng thuốc vào phía bên trong cằm, không nên cho thuốc vào quá gấp cũng như lấy muỗng ra quá nhanh mà nên chờ cho trẻ nuốt hết thuốc và hãy từ từ lấy ra.

Việc nôn thuốc là điều không mong muốn và nếu trẻ nôn thuốc sau khi uống không lâu, các bậc phụ huynh phải kịp thời bổ sung lại lượng thuốc đó, nếu không sẽ không đạt hiệu quả trong điều trị bệnh.

Ngoài ra, cảm giác khó chịu, không thoải mái khi uống thuốc cũng dễ làm trẻ bị nôn thuốc. Vì vậy, có thể kết hợp thuốc pha với các loại nước trái cây ép như nước mật ong, nước nho ép, nhưng đồng thời cần phải lưu ý lượng nước trái cây pha chung với thuốc phải vừa phải, nếu không thuốc sẽ bị mất đi tác dụng của nó. Không nên pha chung thuốc với sữa cho trẻ uống vì sữa có thể phản ứng với thuốc.

Bệnh viện Nhi đồng 2

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về tâm lý trẻ em, nếu có những thắc mắc các bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/tam-ly-tre-em/khi-tre-so-uong-thuoc-n78-2854

Pha sữa cho trẻ bằng nước gì?


Ðể cho con mình có “chiều cao và sự thông minh vượt trội”, nhiều bà mẹ làm theo kinh nghiệm truyền miệng đã pha sữa cho trẻ bằng nước rau, củ hoặc nước khoáng... Nhưng sự thật lại không hoàn toàn như vậy.

Pha sữa cho trẻ bằng nước gì?

Sức khỏe trẻ em

Pha sữa bằng nước khoáng

Khi dùng nước khoáng để pha sữa cho trẻ em uống sẽ có nguy cơ tạo ra một số chất trung gian nguy hiểm. Thực sự, nước khoáng chỉ tốt cho một số người có nhu cầu cần bổ sung chất khoáng, còn “nước tinh khiết” chỉ tốt cho người đã có đầy đủ mọi chất khoáng.

Nếu uống sữa pha với nước khoáng, trẻ không hấp thu được hết những chất dinh dưỡng có trong sữa. Ví dụ trẻ có nhu cầu cần nhiều chất khoáng, vitamin để phát triển, nhưng nếu uống một loại nước khoáng nào đó lâu ngày thì chỉ được cung cấp một số chất, thiếu những chất khác, điều này sẽ cản trở sự phát triển của trẻ.

Pha sữa bằng nước rau luộc

Nước luộc các loại rau như củ dền, cà rốt, nước cải bẹ xanh, bắp cải, củ cải đường… thường có chứa hàm lượng nitrate cao, sau khi ăn sẽ đi vào máu kết hợp với hemoglobin của hồng cầu tạo ra methemoglobin khiến hồng cầu mất khả năng vận chuyển ôxy và có thể gây tử vong nếu khôn  điều trị kịp thời. Hơn nữa, các loại rau thường được sử dụng các loại   thuốc bảo vệ thực vật nên khi nấu thường hòa tan trong nước luộc rau. Dùng nước luộc rau đó pha sữa sẽ có nguy cơ gây ngộ độc cho trẻ.

Pha sữa bằng nước hoa quả

Trái cây là nguồn cung cấp vitamin và khoáng chất cho cơ thể, đặc biệt là vitamin C giúp hấp thu tốt chất sắt có trong sữa và thực phẩm, tăng cường quá trình tạo máu của cơ thể nhất là trẻ nhỏ.

Tuy nhiên, nước trái cây hoàn toàn không thích hợp dùng để pha sữa vì trong nước trái cây có chứa nhiều vitamin C và một số axit hữu cơ. Các chất này sẽ làm vón casein (một loại protein chính trong sữa) sẽ làm cho trẻ khó tiêu và đầy bụng.

Ngoài ra, không nên cho trẻ uống sữa ngay sau hoặc trước khi ăn hoa quả. Một điều cần lưu ý nữa là không nên cho trẻ dưới 6 tháng tuổi uống các loại nước trái cây.

Pha sữa an toàn

Chỉ cần được đun sôi nước sạch đến 100 độ C trong vòng 3 - 5 phút thì những vi khuẩn trong nước sẽ bị tiêu diệt, đáp ứng nhu cầu nước sạch và an toàn cho cả người lớn và trẻ nhỏ. Ngoài ra, khi pha sữa bột nên dùng nước đun sôi và để ra ngoài một thời gian đến khi nước ấm là tốt nhất, thường là từ 40 - 50 độ C

Theo Sức khỏe & đời sống

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em, nếu có những thắc mắc về sức khỏe các bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp của các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-tre-em/pha-sua-cho-tre-bang-nuoc-gi--n62-2845

Cách tốt nhất phòng lây truyền viêm gan B


Bệnh viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virut viêm gan B gây ra. Việt Nam là nước thuộc vùng có tỷ lệ lưu hành bệnh viêm gan B cao.

Cách tốt nhất phòng lây truyền viêm gan B

Bệnh truyền nhiễm

Tỷ lệ lưu hành HBsAg của Việt Nam là 10 - 20%. Một số nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ HBsAg ở phụ nữ có thai >10%. Trẻ sơ sinh có nguy cơ lây nhiễm khi sinh từ 10% - 90% nếu mẹ bị nhiễm viêm gan B. Đây là đường lây nhiễm nguy hiểm nhất. Nếu trẻ sơ sinh bị lây nhiễm virut viêm gan B từ mẹ sẽ có nguy cơ trở thành bệnh mạn tính là 90% và khoảng 25% trong số đó sẽ có nguy cơ bị ung thư gan và xơ gan.

Cho đến nay, chưa có thuốc đặc hiệu điều trị viêm gan B. Do đó, tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh là cách tốt nhất để phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con. Tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh sẽ phòng lây truyền từ mẹ sang con từ 80 - 95%. Nếu tiêm muộn, việc phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con sẽ ít hiệu quả. Do đó, sau khi sinh trẻ cần được tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh.

Vắcxin viêm gan B rất an toàn, đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu sau sinh là chiến lược của Tổ chức Y tế Thế giới trong phòng chống bệnh viêm gan B. Ở nước ta, vắc-xin viêm gan B được triển khai tiêm cho trẻ em trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng từ năm 1997.

Sau khi tiêm vắc-xin viêm gan B có thể gặp các phản ứng thông thường như: đau tại chỗ tiêm, sốt. Những phản ứng nặng sau tiêm vắc-xin viêm gan B thường hiếm gặp và sẽ qua khỏi nếu được phát hiện và xử trí kịp thời. Để đảm bảo an toàn tiêm chủng, các bà mẹ nên tiêm vắc-xin viêm gan B khi trẻ đã bú tốt và đề nghị để con mình được cán bộ y tế thăm khám trước khi tiêm.

Tiêm vắc-xin viêm gan B trong 24 giờ đầu sau sinh và tiêm đủ mũi vắc-xin viêm gan B là cách phòng bệnh tốt nhất

(Theo sức khỏe đời sống)

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về sức khỏe trẻ em, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe các bạn hãy gọi điện đến tổng đài 19008908 hoặc 19008909 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/benh-truyen-nhiem/tiem-vacxin-viem-gan-b-trong-24-gio-sau-khi-sinh-cach-tot-nhat-phong-lay-truyen-viem-gan-b-tu-me-sang-con-n98-2849

Những câu hỏi thường gặp khi sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp


Ngừa thai khẩn cấp là việc sử dụng một số phương pháp để ngừa thai sau khi người phụ nữ đã có quan hệ tình dục mà không sử dụng biện pháp ngừa thai hoặc khi phương pháp ngừa thai đang sử dụng không thành công.

Có những biện pháp ngừa thai khẩn cấp nào?

Tại Hoa Kỳ, có hai hình thức ngừa thai khẩn cấp

- Thuốc viên ngừa thai khẩn cấp

- Vòng tránh thai (IUD)

Những câu hỏi thường gặp khi sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp

Sức khỏe sinh sản

Có những loại thuốc viên ngừa thai khẩn cấp nào?

Có ba loại thuốc ngừa thai khẩn cấp

- Thuốc chỉ chứa progestin

- Thuốc ngừa thai dạng phối hợp

- Thuốc có hoạt chất ulipristal (Ella®)

Thuốc ngừa thai khẩn cấp chỉ chứa progestin được sử dụng như thế nào?

Thuốc ngừa thai khẩn cấp chỉ chứa progestin được trình bày dạng một viên hoặc hai viên thuốc được uống cách nhau 12-24 giờ. Nên được bắt đầu uống thuốc càng sớm càng tốt sau khi quan hệ tình dục không ngừa thai. Thuốc chỉ chứa progestin có thể được sử dụng hơn một lần trong cùng một chu kỳ kinh nguyệt.

Hiệu quả của những viên thuốc tránh thai khẩn cấp chỉ chứa progestin như thế nào?

Thuốc viên chỉ chứa progestin ngừa thai chủ yếu bằng cách ngăn chặn sự rụng trứng. Thuốc không có hiệu quả nếu bạn đã mang thai và không ảnh hưởng đến  quá trình mang thai đã bắt đầu trước đó. Hiệu quả ngừa thai khoảng 75%. Hiệu quả giảm dần theo thời gian, thuốc có hiệu quả nhất khi được dùng trong vòng 72 giờ (3 ngày) quan hệ tình dục không an toàn, tương đối hiệu quả khi dùng trong vòng 120 giờ (5 ngày).

Thuốc phối hợp là gì?

Thuốc ngừa thai có chứa estrogen và progestin được gọi là thuốc phối hợp.

Thuốc phối hợp được sử dụng để tránh thai khẩn cấp như thế nào?

Sử dụng thuốc với liều cao hơn liều thường dùng, thuốc ngừa thai phối hợp có thể được sử dụng để tránh thai khẩn cấp, thường sử dụng hai liều. Số lượng thuốc cần thiết để ngừa thai khẩn cấp là khác nhau cho từng biệt dược. Việc dùng thuốc tránh thai khẩn cấp cần được thực hiện càng sớm càng tốt cho tới 120 giờ, hoặc 5 ngày, sau khi giao hợp không được bảo vệ. Cơ chế của thuốc ngừa thai phối hợp là ngăn chặn sự rụng trứng.

Hiệu quả của thuốc ngừa thai khẩn cấp dạng phối hợp như thế nào?

Thuốc ngừa thai khẩn cấp dạng phối hợp không có hiệu quả ngừa thai như thuốc chỉ chứa progestin. Vì lý do này và vì nguy cơ cao có thể gây buồn nôn và nôn, phương pháp ngừa thai khẩn cấp sử dụng thuốc chỉ chứa progestin được ưa dùng hơn.

Thuốc chứa ulipristal được sử dụng như thế nào?

Ulipristal có thể sử dụng trong vòng 120 giờ (5 ngày) sau khi giao hợp không được bảo vệ mà không có giảm hiệu quả. Ulipristal là thuốc phải kê đơn. Nghiên cứu cho thấy rằng ulipristal có hiệu quả ngừa thai cao hơn thuốc chỉ chứa progestin nếu thực hiện đúng theo chỉ dẫn.

Ulipristal sử dụng lặp lại như thế nào?

Bởi những tác động của việc sử dụng lặp lại của ulipristal chưa được biết đến nên chỉ sử dụng thuốc một lần trong một chu kỳ kinh nguyệt. Nó cũng có thể làm giảm hiệu quả của các phương pháp ngừa thai có sử dụng hormon. Sử dụng một biện pháp ngừa thai không dùng nội tiết tố (ví dụ: bao cao su) sau khi uống ulipristal cho đến khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo.

Những câu hỏi thường gặp khi sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp

Làm thế để có được các thuốc ngừa thai khẩn cấp?

Ulipristal và thuốc ngừa thai dạng phối hợp là những thuốc phải kê toa. Thuốc chỉ chứa progestin có thể mua tại các nhà thuốc mà không cần toa bác sĩ nếu bạn từ 17 tuổi trở lên và phải theo toa bác sĩ nếu bạn là dưới 17 tuổi.

Tác dụng phụ của thuốc ngừa thai khẩn cấp là gì?

Buồn nôn và nôn có thể xảy ra sau khi uống thuốc chỉ chứa progestin và thuốc ngừa thai dạng phối hợp. Chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo có thể không xảy theo đúng thời gian dự kiến, có thể xuất huyết bất thường trong tuần hoặc tháng sau khi điều trị. Những tác dụng phụ có thể xảy ra bao gồm:

- Đau bụng và chuột rút

- Căng ngực

- Đau đầu

- Chóng mặt

- Mệt mỏi

Những tác dụng phụ thường biến mất trong vòng một vài ngày.

Tác dụng phụ của ulipristal bao gồm: đau đầu, buồn nôn và đau bụng. Chu kỳ kinh nguyệt có thể bị xáo trộn, có thể có xuất huyết.

Thuốc ngừa thai khẩn cấp có an toàn không?

Thuốc ngừa thai chỉ chứa progestin và thuốc ngừa thai dạng phối hợp an toàn ngay cả đối với những người phụ nữ bình thường được khuyến cáo không sử dụng biện pháp ngừa thai có sử dụng hormon. Ngừa thai khẩn cấp chỉ sử dụng trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên, các thuốc này không nên được sử dụng ngừa thai dài hạn vì sử dụng thường xuyên thuốc ngừa thai khẩn cấp sẽ có nhiều tác dụng phụ hơn.

Có cần phải theo dõi gì sau khi sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp không?

Không cần thực hiện các xét nghiệm sau khi uống ngừa thai khẩn cấp. Tuy nhiên, cần phải thực hiện một test thử thai nếu bạn chưa có kinh nguyệt trong vòng một tuần theo thời gian dự kiến. Thuốc chỉ chứa progestin và thuốc ngừa thai dạng phối hợp không gây hại cho thai hoặc sức khỏe của em bé nếu đã mang thai. Hiện nay, có rất ít thông tin về việc liệu ulipristal có thể gây hại cho thai nếu người sử dụng đã mang thai.

Có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt sau khi đã sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp hay không?

Vẫn có thể mang thai trong cùng một chu kỳ kinh nguyệt sau khi đã sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp. Để tránh mang thai, nên sử dụng một biện pháp ngừa thai rào chắn (ví dụ: bao cao su) cho đến khi có kinh nguyệt. Có thể bắt đầu sử dụng thuốc ngừa thai, miếng dán hoặc vòng âm đạo ngay sau khi dùng thuốc ngừa thai khẩn cấp vẫn phải sử dụng một biện pháp ngừa thai rào chắn cho đến khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo.

Dụng cụ đặt tử cung chứa đồng (IUD) được sử dụng ngừa thai khẩn cấp như thế nào?

IUD phải được đặt trong vòng 5 ngày kể từ ngày có quan hệ tình dục không được bảo vệ. Hiệu quả ngừa thai khoảng 99%. Một lợi ích là vòng tránh thai sau đó có thể được sử dụng để ngừa thai lâu dài. Nhược điểm: không bảo vệ chống lại bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nếu nguy cơ bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao cao su dành cho nam hoặc nữ nên được sử dụng kèm với IUD. Một số phụ nữ có một số đặc điểm không thể sử dụng IUD.

Ds Thân Thị Mỹ Linh
Khoa Dược -  BV Từ Dũ

Chú ý: Trên đây là những thông tin tham khảo về thuốc tránh thai khẩn cấp, nếu có những thắc mắc thêm về sức khỏe các bạn có thể gọi điện đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.

http://www.cachchuabenh.net/suc-khoe-sinh-san/nhung-cau-hoi-thuong-gap-khi-su-dung-thuoc-ngua-thai-khan-cap-n65-2839

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Những điều cần biết khi tiêm ngừa bệnh thủy đậu

Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng tràn ngập thông tin về bệnh thủy đậu – còn gọi là trái rạ hay phỏng rạ. Do bệnh thủy đậu đã vào giai đoạn cao điểm, số bệnh nhi mắc bệnh thủy đậu tăng cao, thêm vào đó là tác động tích cực của truyền thông giáo dục sức khỏe nên số phụ huynh đưa con trẻ đi tiêm ngừa bệnh thủy đậu đã tăng đột biến trong những ngày này.

Theo ước tính, mỗi ngày phòng tiêm chủng Bệnh viện Nhi Đồng 1 tiếp nhận khoảng trên dưới 100 lượt trẻ đến tiêm ngừa, gần 50% trong số đó yêu cầu chủng ngừa bệnh thủy đậu, tăng gấp ba so với ngày thường. Điều này cho thấy nhu cầu tiêm ngừa của các bậc cha mẹ cho con em mình là rất cao, bài viết dưới đây sẽ cung cấp thêm một số thông tin để quý vị được rõ hơn.

Những điều cần biết khi tiêm ngừa bệnh thủy đậu

Sức khỏe trẻ em

Tác hại của bệnh thủy đậu

Hầu hết trẻ bệnh thủy đậu sẽ khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ có thể bị viêm da, viêm phổi hay viêm não và có thể tử vong. Trẻ sinh ra từ người mẹ bị mắc bệnh thủy đậu có thể bị dị tật, sẹo da và một số bất thường khác.

Nếu đã từng bị mắc bệnh thủy đậu, trẻ sẽ có được miễn dịch và sau này không bị mắc bệnh một lần nữa. Tuy nhiên, trong vài trường hợp khi lớn lên bệnh có thể diễn tiến thành bệnh zona, đặc trưng bởi triệu chứng phát ban khu trú ở một số vị trí và đau dọc theo đường đi của dây thần kinh cảm giác.

Một số thông tin về vắc xin ngừa bệnh thủy đậu

Vắc xin ngừa bệnh thủy đậu được sản xuất từ vi rút sống được làm giảm độc lực, khi đưa vào cơ thể sẽ có tác dụng giúp cơ thể tạo ra kháng thể để chống lại bệnh. Vắc xin này được sử dụng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên. Tùy theo loại vắc xin mà trẻ chỉ cần tiêm một liều duy nhất hoặc nhắc lại liều thứ 2 đối với trẻ trên 12 tuổi. Khi tiêm đủ liều trẻ sẽ đạt được miễn dịch kéo dài đối với bệnh thủy đậu và cả bệnh zona sau này. Những trẻ đã từng mắc bệnh thủy đậu sẽ không cần tiêm ngừa vì bản thân đã có miễn dịch rồi.

Những ai cần tiêm ngừa bệnh thủy đậu?

- Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên chưa mắc bệnh thủy đậu

- Người lớn chưa từng mắc bệnh thủy đậu, đặc biệt là các đối tượng như cô giáo, người chăm sóc trẻ, nhân viên y tế

- Phụ nữ chưa có miễn dịch với bệnh cần được tiêm ngừa trước khi mang thai khoảng 2 tháng

Những ai không được tiêm ngừa bệnh thủy đậu?

- Dị ứng với vắc xin hoặc bất cứ thành phần nào của vắc xin. Vì vậy khi đưa bé đi tiêm ngừa, cha mẹ cần nói cho bác sĩ biết tất cả tiền sử về dị ứng của con mình

- Phụ nữ có thai hoặc nghi ngờ có thai

- Dự định có thai trong vòng 1 tháng sau tiêm ngừa

- Trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh, bất thường về máu, ung thư, nhiễm HIV, đang hoá trị liệu, bệnh lao.

- Đang mắc bệnh nặng

Một số phản ứng phụ sau tiêm ngừa

Tất cả các vắc xin đều có thể gây ra phản ứng phụ sau khi tiêm. Tuy nhiên, những phản ứng này đều nhẹ và ít khi xảy ra. Một số phản ứng có thể gặp sau tiêm ngừa thủy đậu bao gồm:

- Sưng, đỏ, đau ngay vị trí tiêm

- Sốt nhẹ

- Phát ban nhẹ xảy ra trong khoảng 5 – 26 ngày sau tiêm ngừa

- Dị ứng với vắc xin ngừa bệnh thủy đậu: rất hiếm xảy ra, những phản ứng này thường xuất hiện trong vòng 15 phút sau tiêm. Do đó sau khi được chủng ngừa, phụ huynh cần cho trẻ ngồi lại khoảng 30 phút để theo dõi.

Trẻ có tiếp xúc với người bệnh thủy đậu có thể tiêm ngừa được hay không?

Bạn vẫn có thể đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tiêm ngừa. Tuy vậy, nếu thời gian tiếp xúc của trẻ trên 5 ngày thì nhiều khả năng vắc xin sẽ không bảo vệ trẻ được khỏi bệnh. Bên cạnh đó, vắc xin ngừa bệnh thủy đậu cần thời gian khoảng 2 tuần lễ để đạt được miễn dịch tốt nhất nên trong khoảng thời gian này nếu trẻ có tiếp xúc với nguồn lây, trẻ vẫn có khả năng bị mắc bệnh. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, nếu trẻ phát bệnh sau tiêm ngừa thì các triệu chứng bệnh cũng sẽ được giảm nhẹ rất nhiều và hầu như không xảy ra biến chứng.

Bs Như Huỳnh

Chú ý:Trên đây là những thông tin mà các bạn có thể tham khảo, để biết thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 19008909 hoặc 19008908 để nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Tổng Đài Tư Vấn Sức Khỏe 1900.8909